Núp dưới bóng người khác thì không thể không cúi đầu.
Trong lúc dùng bữa, tôi giữ nguyên vẻ mặt lạnh tanh, tay cầm đũa chọc gần như nát bấy món bánh khoai môn hấp trong đĩa.
Sa Thụy Kim vẫn chăm chú đọc tài liệu. Nghe thấy tiếng động, ông liếc mắt nhìn sang như muốn cảnh cáo tôi đừng bày ra thái độ đó.
Nếu phải sống những tháng ngày thế này thì thà chết quách đi cho xong.
Tôi hít một hơi thật sâu, buông đũa, vào phòng ngủ lấy sổ đỏ trong ngăn kéo tủ đầu giường rồi mang ra đặt lên bàn cùng chiếc thẻ ngân hàng đã nhận tiền chuyển khoản từ Sa Thụy Kim.
Ông lặng lẽ quan sát tôi, chờ tôi lên tiếng giải thích.
Tôi nghiêm túc nói: “Nếu chú cho rằng vì em đã nhận được lợi lộc nên không còn tư cách làm người, không xứng đáng nhận sự tôn trọng, vậy thì em trả lại tất cả cho chú.”
Ông tháo kính xuống, xoa nhẹ lên ấn đường rồi đặt xấp tài liệu sang một bên.
Tôi liếc nhanh sang, chỉ kịp thấy vài từ trên tiêu đề, đại khái là thành lập một tổ công tác nào đó và đẩy mạnh quá trình tự cải cách trong nội bộ tổ chức.
“Có nghiêm trọng đến mức đó không? Gì mà không còn tư cách làm người với không xứng đáng được tôn trọng hả?” Giọng ông phảng phất sự bất lực.
Tôi ngẫm nghĩ một hồi, cố giữ cho giọng thật bình tĩnh: “Em nghĩ là có.”
“Bà ấy làm gì em sao?”
Câu hỏi của ông khiến tôi sững người trong một thoáng, sau đó vội vàng lắc đầu: “Không không, em không có ý đó. Chỉ là em cảm thấy mình giống như một món đồ. Hai người gọi đến thì phải đến, muốn đối xử ra sao cũng được.”
Tôi không thể chấp nhận một cuộc sống mà cả cách tôi được đối xử lẫn việc tôi sống khổ hay sướng đều phải phụ thuộc vào tâm trạng của người khác.
Nghe tôi nói vậy, ông trầm ngâm một lúc, sắc mặt theo đó dịu đi, nét u ám ban đầu cũng dần tan biến: “Chuyện này đúng là do tôi xử lý chưa thoả đáng, lẽ ra nên báo trước với em một câu. Hôm đó tôi bận bàn chuyện công việc với lãnh đạo nên chỉ dặn Tiểu Triệu hỏi qua ý kiến của em.”
Tôi chợt nhớ đến câu “cô xem thế nào?” mà tài xế Triệu nói khi ấy.
Nghe thì có vẻ như đang trưng cầu ý kiến của tôi, nhưng trên thực tế câu hỏi đó không hề mang ý: “Sa Thuỵ Kim tôn trọng quyết định của cô, cô muốn đi thì đi, không muốn đi cũng không sao cả.”
Nếu thật sự tôn trọng thì phải sẵn sàng chấp nhận bất kỳ quyết định nào tôi đưa ra. Còn kiểu như vậy chỉ là đẩy trách nhiệm sang cho tôi mà thôi.
Tài xế Triệu đã làm việc cho lãnh đạo nhiều năm, chẳng lẽ lại không phân biệt nổi hai cách nói này?
Tôi hít sâu một hơi, đè nén những suy nghĩ ấy xuống đáy lòng, chấp nhận lời giải thích của Sa Thụy Kim. Đây là sự nhượng bộ của ông, còn tôi thì cần biết điểm dừng ở đâu.
Tôi nói: “Bí thư Sa, em nghiêm túc đấy. Em hiểu là chú có những cân nhắc của riêng mình, nhưng thật lòng em hy vọng chú có thể phần nào nghĩ cho cảm xúc của em.”
Để vươn tới vị trí như hiện tại, ông buộc phải duy trì thế cân bằng giữa vô vàn mối quan hệ lợi ích. Ông đã không còn là vị lãnh chúa một phương từng một tay che trời nữa.
Càng tiến gần đến trung tâm quyền lực, những ràng buộc và kìm hãm cũng ngày một nhiều hơn.
Ông thở dài: “Dọn hết mấy thứ trên bàn đi, đừng giở trò lấy lùi làm tiến này ra với tôi nữa.”
Ông không đáp lời tôi, nhưng hiểu rõ tôi đang xuống nước. Thấy tôi không nhúc nhích, ông nói tiếp: “Tôi hiểu ý của em rồi, mau cất mấy thứ này đi đi. Lần sau không được làm vậy nữa. Đừng có động tí là bày hết đồ ra bàn như vậy.”
Tôi thử mở lời: “Vậy sau này chú cũng đừng nói mấy câu kiểu thế giới vận hành thế nọ thế kia nữa được không?”
Thấy ông định nói gì đó, tôi vội vàng cầm sổ đỏ và thẻ ngân hàng trên bàn lên rồi nói tiếp: “Em không bảo chú nói sai, nhưng mà… nghe chú nói mấy lời đó, em thấy khó chịu lắm.”
Ông nhìn tôi chăm chú, giọng điệu cất lên không mang theo phán xét, cũng chẳng có cảm xúc: “Thế giới này vốn dĩ là như vậy.”
Đây là thế giới ông đã chọn, nơi con người vì lợi ích mà giành giật, đấu đá, chèn ép lẫn nhau. Tại đây, giữa con người với con người gần như chỉ còn lại sự lợi dụng và vô cảm.
Để bản thân được sống thoải mái, ông đã không ngần ngại kéo tôi vào trong, biến tôi thành bia đỡ đạn, thành kẻ phụ thuộc hèn mọn nhất.
Nếu sau này lại xảy ra chuyện tương tự, nếu một lần nữa phải đứng trước lựa chọn giống như vậy, tôi tin ông vẫn sẽ chọn bỏ rơi tôi.
Bản tính của ông vốn là như vậy.
Tôi đã lún quá sâu, bị kéo tới thủ đô và trói chặt vào Sa Thuỵ Kim trong tâm thế nửa muốn nửa không. Nếu mối quan hệ này chấm dứt từ khi còn ở Hán Đông, dù sự nghiệp của ông thành hay bại, cơ đồ của ông tàn lụi hay vươn xa cũng chẳng liên quan gì đến tôi.
“Ở mãi trong một thế giới như vậy… cũng đáng sợ lắm.” Tôi ngồi xuống cạnh ông, muốn xoa dịu phần nào bầu không khí bức bối lúc này.
Ông nhìn sang tôi: “Đáng sợ gì nào? Em đang bảo tôi đáng sợ sao?”
Một người theo chủ nghĩa thực dụng cực đoan, luôn đặt lợi ích lên trên hết, làm chuyện gì cũng cân nhắc thiệt hơn, không có giới hạn đạo đức hay ý thức nhân quyền, sẵn sàng hy sinh mọi thứ để đạt được mục đích, đương nhiên là đáng sợ rồi.
Ông bị quyền lực tha hoá, nhưng đồng thời cũng nắm trong tay quyền lực.
“Cũng hơi hơi.” Tôi ngẫm nghĩ, cảm thấy thay vì cố giấu giếm thì chẳng thà nói thật còn hơn: “So với hồi còn ở Hán Đông, em thấy chú thay đổi nhiều lắm.”
Nghe thấy lời tôi nói, ông trầm tư một lúc mới đáp lại: “Tư Vũ, biết đâu thực ra tôi chưa từng thay đổi, chỉ là em đang ở quá gần tôi nên mới thấy rõ mọi thứ thôi?”
Trong lời ông nói có ẩn ý về những điều tôi vốn đã biết từ lâu.
Sự tàn nhẫn và máu lạnh vốn đã ăn sâu trong con người Sa Thụy Kim, chỉ là lâu nay ông luôn giấu nó dưới vẻ ngoài hiền hòa, gần gũi. Sau hơn bảy năm ở bên nhau, ông không còn phải ngụy trang trước mặt tôi nữa.
Đồng thời, chính nền tảng tin tưởng đã hình thành giữa hai chúng tôi cũng cho tôi quyền được thoải mái nói theo ý mình.
Đó là một trạng thái tâm lý hết sức kỳ lạ.
Tôi không tin ông. Tôi hiểu rõ ông nhất định sẽ làm tổn thương tôi, dù là vô tình hay cố ý. Nhưng đồng thời, tôi cũng tin rằng ông sẽ không bao giờ huỷ hoại tôi hoàn toàn.
Chuyện này rốt cuộc vẫn để lại một vết nứt trong mối quan hệ. Giữa chúng tôi đã có quá nhiều sự tổn thương, thật khó để lý giải vì sao một mối quan hệ như vậy lại có thể kéo dài được đến tận bây giờ.
Dù nghĩ không thông nhưng cuộc sống vẫn phải tiếp diễn.
Nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy nặng nề trong chương trình sau tiến sĩ đã tạm thời kéo tôi ra khỏi mớ suy nghĩ luẩn quẩn ấy.
Một tuần trước khi hệ thống đăng ký học phần mở lại, cuối cùng tôi cũng kịp nộp đề cương giảng dạy cho phòng đào tạo trước hạn chót. Danh mục tài liệu tham khảo được đề xuất đã được ấn định gồm bốn mươi cuốn sách.
Từ thông sử đến những phân nhánh sử học chuyên biệt, sau khi liệt kê tất cả sách chuyên khảo và bài luận đã đọc trong suốt thời gian học thạc sĩ và tiến sĩ, tôi lại tìm ra một số tài liệu trước đây chưa từng xem qua.
Năm đầu tiên thực sự rất bận vì còn phải đứng lớp. May mà có một giảng viên đồng ý cho tôi tham gia giảng dạy vài buổi trong lớp của cô ấy, coi như cả hai cùng phụ trách học phần này và số tín chỉ cũng được tính vào định mức giảng dạy của tôi.
Dù vậy, tuần nào tôi cũng phải thức đến khuya ít nhất hai buổi để chuẩn bị bài giảng.
Kể cả Sa Thụy Kim ghé qua cũng không lay chuyển được quyết tâm làm PPT của tôi. Có mấy lần tôi chỉ kịp ăn mấy miếng rồi ôm luôn máy tính gõ bài ngay trên bàn ăn.
Có lúc ông ngồi phía đối diện phê duyệt văn kiện, có lúc thì đọc báo, có lúc lại tiện tay cầm quyển sách tôi để cạnh máy tính lên đọc. Thỉnh thoảng, ông lại hỏi tôi ý nghĩa của một vài từ ngữ trong đó, bởi các thuật ngữ chuyên ngành vốn có độ khó nhất định đối với người ngoài lĩnh vực.
Ông kéo tôi tới Bắc Kinh để giải tỏa tâm trạng chứ không phải để chuốc bực vào người. Thế nên, chỉ cần tôi không chống đối thì ông cũng sẽ không gây khó dễ cho tôi.
Có vài lần tôi mải mê đọc một chương trong sách, khi ngẩng đầu lên phát hiện ông đang nhìn tôi bằng ánh mắt rất đỗi dịu dàng.
Bị tôi phát hiện, ông cũng không né tránh mà chỉ hỏi tôi đang đọc cái gì.
Tôi vốn không quen với bầu không khí kỳ lạ này. Mỗi lần như vậy, tôi lại vội vàng chia sẻ những suy nghĩ vừa nảy ra trong đầu, như thể vớ được cọng rơm cứu mạng.
Bất kể tôi nói gì ông cũng lắng nghe hết sức chăm chú.
Tôi vẫn luôn thích điều đó ở ông, từ rất lâu rồi.
Kể từ khi Sa Thụy Kim trở thành Chánh văn phòng Trung ương Đảng, những tranh luận xoay quanh phe phái của ông cũng dần lắng xuống.
Chức vụ Chánh văn phòng Trung ương Đảng vốn luôn do tâm phúc của lãnh đạo tối cao nắm giữ, được ví như tổng quản đại nội của Trung Nam Hải. Điều này cho thấy, bất kể trước đây Sa Thụy Kim thuộc phe phái nào thì hiện tại ông đã trở thành một trong những người được lãnh đạo đương nhiệm tin tưởng nhất.
Trong các phát biểu công khai, ông luôn thể hiện rõ lập trường chính trị, kiên quyết ủng hộ vai trò lãnh đạo của Trung ương Đảng mà trọng tâm là Tổng Bí thư Dương Kiến Sơn, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Những động thái ấy dĩ nhiên khiến không ít người bất mãn. Tôi bắt đầu hiểu được sự thay đổi của Sa Thụy Kim. Khi còn ở Hán Đông, ông không nghiêng hẳn về phe phái nào nên vẫn có thể giữ thế cân bằng giữa các bên. Nhưng khi đặt chân đến thủ đô và lập trường đã được xác định rõ, cuộc chiến ngấm ngầm cũng dần bộc lộ, buộc ông phải tung ra những biện pháp đáp trả cứng rắn.
Ông bắt đầu thanh trừng hàng loạt đối thủ chính trị, việc ấy được tiến hành một cách thuần thục hệt như những gì ông từng làm khi còn ở Hán Đông.
Gần tám mươi phần trăm cán bộ trong Văn phòng Trung ương Đảng đã bị thay thế, một động thái được giới quan sát đánh giá là cuộc thay máu toàn diện. Ngay trong năm đầu tiên giữ chức Chánh văn phòng Trung ương Đảng, toàn bộ cơ quan này đã nằm trong tầm kiểm soát của ông.
Tôi không biết liệu trong trái tim Sa Thụy Kim còn có nhân dân không, hay tất cả những gì còn lại chỉ là cuộc đấu đá chính trị tàn khốc cùng tham vọng thâu tóm quyền lực.
Tôi chỉ biết, thỉnh thoảng khi nằm co mình trên ghế sofa xem tivi, ông sẽ gối đầu lên bụng tôi. Tôi thấy nhột muốn đẩy ông ra, nhưng ông lại bật cười và nắm lấy cổ tay tôi. Cái nắm ấy tuy nhẹ nhàng nhưng cũng rất chặt.
Chỉ có điều tôi vẫn đang chờ đợi, chờ một sự kiện nào đó xảy ra và rồi ông sẽ lại lần nữa lựa chọn vứt bỏ tôi.
Sa Thụy Kim vốn là kiểu người như vậy.

