Sa Đọa - Ngã Ái Nãi Long

Chương 47




Nội dung chương đang bị khóa. Vui lòng mở lại quảng cáo
để tiếp tục ủng hộ dịch giả và đọc Chương 47 miễn phí!

Trong hai năm làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, tôi dành phần lớn tinh lực cho việc soạn bài và giảng dạy, không còn thời gian để khai phá hướng nghiên cứu mới, vì vậy các bài báo khoa học của tôi trong giai đoạn này vẫn chủ yếu tiếp nối phương hướng từ luận án tiến sĩ.

May mắn thay, khoản tích lũy trước đó đủ để tôi có thể duy trì cuộc sống.

Nhờ vào danh tiếng gây dựng trong thời gian làm nghiên cứu sinh, tôi liên tiếp nhận được lời mời từ một số đơn vị tổ chức diễn đàn và hội thảo khoa học, tuy nhiên quy mô của những sự kiện này đều tương đối nhỏ.

 

Thực ra vào hai năm cuối cùng của chương trình tiến sĩ tôi cũng từng nhận được một số lời mời tham dự hội nghị, nhưng do vấn đề sức khỏe cũng như phải tập trung viết luận án nên về cơ bản tôi đều từ chối.

Đến nay, cuối cùng tôi cũng có thời gian nên tranh thủ tham dự một vài hội nghị.

Tôi không thích khoe khoang về những trải nghiệm của bản thân, chỉ muốn lặng lẽ sống cuộc đời mình. Trong quá trình tiếp xúc với các đồng nghiệp trong giới học thuật, tôi nhận thấy rõ rằng thái độ của họ thường có những chuyển biến tinh tế, trở nên niềm nở và lịch thiệp hơn sau khi biết cô Vương là giáo sư hướng dẫn của tôi.

 

Sau khi hội nghị kết thúc, nếu trường không có việc gì gấp thì tôi thường sẽ ở lại địa phương thêm một hai ngày. Tôi không thích Bắc Kinh, luôn có cảm giác nơi đó quá ngột ngạt, như thể có một đám mây dày đặc bao phủ trên đỉnh đầu, khiến tôi cảm thấy vô cùng gò bó, nặng nề và căng thẳng.

Có đôi ba lần tôi nấn ná đến nửa tuần, mãi đến khi Sa Thụy Kim thúc giục, tôi mới miễn cưỡng trở về.

Ông rất biết chừng mực, nếu là công việc chính đáng thì tuyệt đối không làm phiền tôi. Nhưng ngoài những lúc đó ra, chỉ cần tôi nán lại thêm vài ngày là thể nào cũng bị ông giục về.

 

Các đồng nghiệp tò mò về chuyện tình cảm của tôi, nói muốn giới thiệu đối tượng cho tôi. Tôi ngại phiền phức nên viện cớ rằng mình đã có hôn ước ở quê nhà, chỉ chờ hoàn thành chương trình sau tiến sĩ là sẽ kết hôn.

Cha mẹ cũng giục giã liên tục, nhất quyết bắt tôi đi xem mắt cho bằng được. Trong số đối tượng được giới thiệu có một người đang làm việc tại một viện nghiên cứu ở Thiên Tân.

Trùng hợp là khoảng thời gian này, tôi cùng mấy đồng nghiệp cũng đang có chuyến đi chơi ở đó.

 

Sau khi biết chuyện, Sa Thụy Kim đã buông lời bóng gió, nghe như đùa nhưng tôi lại cảm nhận được trong câu nói bâng quơ ấy có hàm ý cảnh cáo rõ ràng.

Ngay trong năm đầu tiên nhậm chức, ông đã dốc toàn lực thâu tóm quyền kiểm soát Văn phòng Trung ương Đảng, đồng thời ra tay thanh trừng hàng loạt đối thủ chính trị. Việc này khiến truyền thông nước ngoài bắt đầu gọi ông bằng danh xưng “đồ tể giới chính trị”.

Trước kia, ông từng được đánh giá tích cực trong giới quan chức, nhưng hiện nay đã bắt đầu xuất hiện nhiều luồng ý kiến trái chiều.

 

Sang năm thứ hai, trong dư luận bắt đầu xuất hiện tin đồn Sa Thụy Kim có nhân tình. May mắn là danh tính của cô nhân tình ấy chưa bị phanh phui, chỉ nghe nói cô ta đang được ông bao nuôi ở Bắc Kinh.

Trên thực tế, những tin đồn như vậy không gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong một thể chế chính trị chuyên chế, xuyên suốt lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa từng ghi nhận trường hợp lãnh đạo cấp cao nào phải từ chức chỉ vì bê bối liên quan đến đời tư. Việc các quan chức có nhân tình cũng là hiện tượng tương đối phổ biến.

Trước đây, do cấp bậc chưa cao nên Sa Thuỵ Kim ít được truyền thông nước ngoài chú ý. Giờ đây, khi đã nắm giữ chức vụ quan trọng và quyền hành lớn, ông khó tránh khỏi việc bị giới truyền thông theo dõi sát sao, cũng như bị các đối thủ chính trị tìm cách dò xét.

 

Sau khi tin đồn lan ra, ông đích thân đến trấn an tôi, nói rằng những lời đồn kiểu này đối với một chính trị gia chẳng đáng để bận tâm, và ông chắc chắn sẽ bảo vệ tuyệt đối thông tin cá nhân của tôi.

Những tin đồn chưa được kiểm chứng này suy cho cùng cũng chỉ là đề tài tán gẫu lúc trà dư tửu hậu. Điều người ta quan tâm hơn cả là lập trường chính trị và các động thái của ông, cùng những tín hiệu về biến động nhân sự cấp cao được phản ánh qua đó.

Chẳng hạn, ngay trước kỳ họp Lưỡng hội* vào năm thứ hai Sa Thụy Kim giữ chức Chánh văn phòng Trung ương Đảng, ông đã có một động thái lớn khi tiến hành thay đổi nhân sự quy mô lớn tại Cục Cảnh vệ Trung ương.

 

(* Kỳ họp Lưỡng hội là hai kỳ họp chính trị thường niên quan trọng nhất tại Trung Quốc, bao gồm:
– Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (cơ quan lập pháp tối cao)
– Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (cơ quan tham vấn chính trị)
Lưỡng hội là dịp để công bố các chính sách lớn, điều chỉnh nhân sự cấp cao và định hình đường lối phát triển của đất nước.)

Đội ngũ mới không được tuyển chọn từ hệ thống nhân sự hiện có của Cục Cảnh vệ Trung ương, mà được lấy trực tiếp từ binh lính đặc nhiệm thuộc lực lượng tác chiến cơ động cấp quân đoàn.

Đáng chú ý nhất là lực lượng cảnh vệ bảo vệ Tổng Bí thư Dương Kiến Sơn không còn thuộc quyền chỉ huy của Cục Cảnh vệ Trung ương, mà chuyển sang chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh văn phòng Trung ương Đảng Sa Thụy Kim.

 

Cục Cảnh vệ Trung ương là đơn vị cấp chính quân trực thuộc Văn phòng Trung ương Đảng, có chức năng đảm bảo an ninh cho các lãnh đạo cấp cao thuộc Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính hiệp, cũng như các nguyên thủ quốc gia nước ngoài trong các chuyến thăm chính thức. Cơ quan này phụ trách công tác bảo vệ các lãnh đạo đương nhiệm và đã nghỉ hưu ở cấp chính quốc gia, có thể nói là nắm giữ sự an toàn, thậm chí là tính mạng của những người đứng đầu đất nước.

Nhiều người xem đây là một bước đi quen thuộc trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái, cũng có những kẻ táo bạo hơn thì suy đoán rằng đây là sự chuẩn bị cho một chiến dịch quy mô lớn sắp diễn ra. Dư luận râm ran với đủ mọi lời đồn đoán.

Khoảng thời gian đó, Sa Thụy Kim đến chỗ tôi thường xuyên hơn hẳn, gần như ở lại luôn tại đây. Vào tuần thi cuối kỳ tôi rất bận, thường đến mười một giờ đêm mới về nhà, có hôm thấy ông mặc đồ ngủ ngồi đợi. Thỉnh thoảng muộn quá, tôi ngủ lại ký túc xá trong trường, hôm sau trở về mới biết tối qua ông đã tới đây.

 

Dù đang ở tâm xoáy của cơn sóng ngầm, Sa Thụy Kim về cơ bản vẫn giữ được dáng vẻ bình thản, ngoại trừ đôi lúc đứng trầm ngâm ngoài ban công, hoặc ngồi trên ghế sofa với gương mặt nghiêm nghị, có phần nặng nề khi đăm chiêu suy nghĩ.

Ngay cả tôi cũng mơ hồ cảm nhận được một chuyện gì đó đang âm thầm diễn ra.

Gió thổi lồng lộng khắp bốn bề, báo hiệu cơn giông sắp ập đến.

 

Thời gian đào tạo sau tiến sĩ kéo dài từ hai đến ba năm. Sang năm thứ hai, tôi đã đủ điều kiện để kết thúc chương trình, nhưng vẫn đang cân nhắc có nên gia hạn thêm một năm hay không.

Khoản tiền tiết kiệm giúp tôi đạt được tự do tài chính, nên việc không có lương trong năm thứ ba cũng chẳng hề hấn gì. Khi đó tôi đã quyết định sẽ không tiếp tục ở lại Bắc Kinh, mà trở về quê ngay sau khi kết thúc chương trình sau tiến sĩ.

Nhưng chỉ còn một năm nữa là đến kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc tiếp theo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đây là giai đoạn vô cùng then chốt đối với Sa Thụy Kim, tôi không nỡ để lại ông một mình vào thời điểm ấy.

 

Ngoài hai bên tóc mai đã điểm bạc, trên đỉnh đầu ông cũng lấm tấm vài sợi tóc trắng, tất cả đều được tôi cẩn thận nhuộm đen lại.

Nghĩ lại mới thấy, tình cảm giữa chúng tôi luôn lệch nhịp. Khi ông cố giữ tôi lại, tôi không muốn, đến khi tôi động lòng trắc ẩn, định ở lại thêm một năm thì ông đã chán ngấy tôi rồi.

Ông chủ động hỏi tôi dự định khi nào kết thúc chương trình sau tiến sĩ. Sau khi tôi trả lời, ông trầm ngâm một lúc rồi lạnh nhạt cất tiếng: “Cứ kết thúc luôn đi.”

 

Tôi không biết phải giải thích quyết định của mình thế nào, nhưng trở về quê làm việc là điều tôi đã suy nghĩ kỹ và hoàn toàn chắc chắn.

Bố mẹ tôi phải rời khỏi quê hương để mưu sinh từ sớm, do lao lực mà sức khoẻ suy yếu rất nhiều, những năm gần đây đau ốm liên miên. Hai người không được nhà nước bố trí đội ngũ y tế chuyên nghiệp chăm sóc sức khỏe như Sa Thụy Kim. Bố mẹ chỉ có thể trông cậy vào một mình tôi thôi.

Trước khi tôi kịp sắp xếp câu chữ, ông đã lên tiếng trước: “Có nghĩ đến việc ra nước ngoài làm học giả thỉnh giảng một năm không?” Sau đó, ông nhắc đến tên một trường đại học, hỏi tôi thấy thế nào.

 

Giọng điệu của ông hoàn toàn không giống đang bàn bạc. Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp: “Không cần đâu, em đi làm luôn thì hơn. Có viện nghiên cứu ở tỉnh nhà liên hệ với em rồi.”

Sắc mặt ông không có gì thay đổi: “Tôi biết em luôn theo dõi thông tin tuyển dụng ở quê và giữ liên lạc với các trường đại học, viện nghiên cứu bên đó. Nếu không phải vì sợ tôi biết thì có lẽ em đã ký hợp đồng với họ từ lâu rồi.”

Tôi cứ ngỡ mình che giấu rất kỹ, hóa ra chỉ là ông mắt nhắm mắt mở mà thôi.

 

Giọng ông trở nên kiên quyết, không cho phép phản bác: “Được rồi, không nhắc đến chuyện đó nữa. Nghe lời tôi, em ra nước ngoài chơi một năm đi.”

Hôm ấy, cảm giác hụt hẫng và nhẹ nhõm đan xen trong lòng tôi. Khi trở lại trường, tôi xé bỏ tờ đơn xin gia hạn chương trình đang viết dở trên bàn làm việc. Khi tôi còn do dự có nên ở lại thêm một năm bên Sa Thụy Kim hay không, ông đã sớm có quyết định của riêng mình.

Vào một ngày ngập nắng của tháng Sáu, tôi lên chuyến bay ra nước ngoài. Sa Thụy Kim đích thân đến tiễn. Trước lúc chia tay, ông nói: “Đi đường bình an nhé, Tư Vũ.”

 

Tôi kéo vali, trong lòng chợt cảm thấy nhẹ nhõm hơn bao giờ hết: “Chú cũng giữ gìn sức khỏe. Cảm ơn chú vì đã chăm sóc em suốt những năm qua.”

Ông mỉm cười, đưa tay chỉnh lại phần cổ áo bị quai túi làm nhăn của tôi rồi khẽ nói: “Nếu có chuyện gì thì cứ liên lạc với tôi. Hai năm qua có em ở bên, tôi thật sự rất vui.”

Vẻ mặt Sa Thuỵ Kim vẫn bình thản như mọi khi, chỉ có điều tận sâu trong ánh mắt chợt loé lên những tia cảm xúc mà tôi không sao hiểu nổi.

 

Tôi gật đầu, vẫy tay chào tạm biệt ông.


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.