Thuở Dạ Kiêu mới quen biết Xích Tuyết, hắn cảm thấy nàng là một người có phần đáng sợ.
Sự đáng sợ ấy thể hiện ở mọi phương diện, mà rõ ràng nhất chính là trình độ võ học uyên thâm của nàng. Trước khi gặp Xích Tuyết, Dạ Kiêu vẫn tự phụ mình là kẻ tư chất vạn người có một, nhưng đem so với nàng, hắn học gì cũng thấy chậm hơn nửa bước.
Kế đến là năng lực làm việc. Chuyện dù khó đến đâu, hễ vào tay nàng là có cách giải quyết, bởi vậy nàng nhận được nhiều ban thưởng nhất. Đám trẻ cùng lứa không tránh khỏi kẻ đố kỵ, ngấm ngầm giở trò xấu sau lưng, song chẳng một ai thành công, đều bị nàng trả đũa sòng phẳng.
Chẳng mấy chốc, không còn ai dám đụng đến nàng nữa. Mọi người tựa hồ đều mặc định rằng nàng là người có tiền đồ nhất trong đám trẻ này. Những kẻ giỏi quan sát sắc mặt thậm chí đã sớm bắt đầu tìm cách nịnh bợ nàng.
Nàng chẳng đoái hoài, bất kể khi nào cũng bình tĩnh thâm trầm, khiến người ta có cảm giác nàng là kẻ có tâm cơ cực sâu, luôn nghĩ cách mưu tính đại nghiệp kinh thiên động địa nào đó.
Mới đầu Dạ Kiêu cũng nghĩ như vậy.
Mỗi khi nàng nằm khểnh trên đống rơm ngắm trời đất, dồn hết việc cho hắn, Dạ Kiêu lại tự nhủ: Nàng đang suy tính đại sự.
Từ bao giờ hắn bắt đầu thay đổi suy nghĩ ấy nhỉ?
Cũng chẳng có thời khắc cụ thể nào, chỉ là theo thời gian trôi đi, chung đụng nhiều rồi, hắn tự nhiên mà hiểu ra rằng: nàng không làm việc chỉ đơn giản là vì lười.
Tất nhiên, nàng cũng không để hắn chịu thiệt, nàng chăm ngựa thay hắn.
Xích Tuyết cực kỳ, cực kỳ biết cách chăm ngựa, mà có lẽ chẳng riêng gì ngựa. Có lần, hắn và Xích Tuyết bị Đô giám trường ngựa sai đi thịt lợn. Dạ Kiêu lần đầu làm chuyện này nên có chút căng thẳng, con lợn vùng vẫy thoát khỏi tay hắn rồi lao xuống đầm sen. Hắn định nhảy xuống bắt thì bị Xích Tuyết cản lại, nói dưới đó nguy hiểm, dễ bị sụt lún. Hắn hỏi phải làm sao, Xích Tuyết liền đi tới ven đầm, trêu chọc con lợn bên dưới: “Ngươi chạy cái gì? Vùng vẫy một vòng chung quy chẳng phải vẫn không thoát được cái chết sao? Làm kiếp súc sinh có gì vui? Đáng để quyến luyến như thế ư? Chi bằng sớm đầu thai làm kiếp người đi. Thế này nhé, ta hứa với ngươi, một chiêu đoạt mạng, nửa hơi là đứt, tuyệt không để ngươi đau đớn. Nghe hiểu thì tự mình lên đây.”
Dạ Kiêu nghe mà lùng bùng lỗ tai, chẳng rõ đó là từ bi hay tàn nhẫn. Hắn cũng không biết con lợn kia cuối cùng bò lên bờ là vì nghe hiểu lời nàng, hay là vì sợ chết đuối.
Hắn lén hỏi Xích Tuyết, nàng chỉ để lại cho hắn một ánh mắt thâm sâu khó lường.
Hắn cảm thấy Xích Tuyết là một người rất thần kỳ.
Nhiều đồng liêu đánh giá Xích Tuyết là người vô dục tắc cương*, Dạ Kiêu thấy đúng mà cũng chẳng đúng.
*Vô dục tắc cương: không h*m m**n thì sẽ cứng cỏi, mạnh mẽ.
Xích Tuyết không tham tài, cũng chẳng thiết tha quyền lực, nhưng nàng không phải thần tiên, nàng tất nhiên có h*m m**n, nếu không đã chẳng rủ hắn đi trộm rượu của Đô giám.
Cả đời này, thời khắc Dạ Kiêu thấy Xích Tuyết tràn đầy h*m m**n nhất chính là trước khi tiềm nhập vào đô thành Ô Đồ. Họ phát hiện ngoài thành có mấy cái xác thám tử phái đi trước đó, những người này chết rất kỳ lạ, cứng đơ như những khúc gỗ, cơ thể không hề thối rữa.
Thân Quân Ti từng thấy cách chết này, đây là trúng phải độc dược của Thú Lâu, độc Khổ Lao.
Dạ Kiêu thấy lạ, độc Khổ Lao chỉ có một mình cựu tướng Đường Hoàn biết chế tạo, sau khi ông ta chết thì thứ độc này đã tuyệt tích ở Đại Thịnh, sao đột nhiên lại xuất hiện ở Ô Đồ?
Chẳng lẽ, Đường Hoàn chưa chết?
Nếu Lưu Thụy Nghĩa ở đây, lúc này hẳn sẽ chửi ầm lên: “Cái lũ khốn kiếp! Đám quan lại Hình bộ này rốt cuộc đã ăn bao nhiêu bạc? Mua chuộc bao nhiêu cửa ải? Đến cả tội tru di cửu tộc mà cũng tráo được người chết thay! Kim thiền thoát xác! Vô sỉ! Hoang đường!”
Nhưng giờ chỉ có Dạ Kiêu và Xích Tuyết ở đây. Dạ Kiêu đối với hạng chuyện này đã quá quen thuộc, không để tâm mấy, song chẳng ngờ được mắt Xích Tuyết lại sáng rực lên.
Ngay cả khi đối mặt với loại rượu ngon nhất, Dạ Kiêu cũng chưa từng thấy mắt nàng sáng như vậy.
Nàng nhìn chằm chằm vào cái xác kia, thốt lên một câu khen ngợi từ tận đáy lòng: “Đường tướng, ông lợi hại thật đấy.”
Kể từ đêm đó, Xích Tuyết đã thay đổi. Tuy ngoài mặt nhìn không rõ lắm, nhưng Dạ Kiêu rất hiểu nàng, hắn có thể nhận ra sự hưng phấn của nàng.
Nàng hưng phấn đến mức gần như không nghỉ ngơi. Đêm hoàn thành nhiệm vụ của chủ soái, ngày lại dịch dung ra ngoài, mấy ngày mấy đêm không ngủ, tựa hồ không biết mệt mỏi là gì. Sau đó, nàng thậm chí còn chủ động trò chuyện với hắn.
“Dạ Kiêu, huynh có biết Đường Hoàn là người thế nào không?”
“Cô nói đi.”
“Ông ta là kẻ cực kỳ tự phụ, cực kỳ ngạo mạn và cực kỳ thích khoe khoang.” Đáy mắt Xích Tuyết vằn tia máu nhưng lại lấp lánh tia sáng. “Độc Khổ Lao là kiệt tác hoàn mỹ nhất của ông ta, ông ta sẽ không nhịn được mà đem ra dùng. Chính vì thế, khắp nơi đều là dấu vết…” Nàng tiến lại gần hắn, tựa như dã thú ép sát, hắn cứng cổ không dám cử động. Xích Tuyết mở to mắt, khẽ nói: “Ta sắp tìm được ông ta rồi.”
Dạ Kiêu bị nàng nhìn đến mức dựng cả tóc gáy. Thật đáng sợ, hắn thầm nghĩ, Đường Hoàn chỉ là một con chó mất nhà thất thế, rốt cuộc đã đắc tội gì nàng?
Khi đó, họ đã lấy được bản đồ bố phòng đô thành, chỉ đợi đại quân công thành.
Lương Vương ngày ngày cử người ra ngoài thành kêu hàng, Đạt Ngô thà chết không theo.
Trong những ngày họ phí lời đó, Xích Tuyết chắc hẳn đều đang ép cung.
Nói là chắc hẳn, vì đó đều là suy đoán của Dạ Kiêu. Hắn còn dựa vào thần sắc của Xích Tuyết khi trở về mà đoán rằng việc ép cung của nàng không được thuận lợi.
Kỹ thuật tra tấn người của Thân Quân Ti đủ mọi kiểu cách, Xích Tuyết cũng chẳng phải kẻ nương tay, vậy vấn đề chỉ có thể nằm ở chỗ Đường Hoàn.
Một ngày nọ, Xích Tuyết trở về, gục đầu xuống tấm nệm cỏ, khắp người nồng nặc mùi tanh, kẽ móng tay đều là vệt máu rửa không sạch.
Dạ Kiêu hỏi nàng làm sao, Xích Tuyết đáp: “Kẻ này từng một tay che trời, cuồng vọng tự đại, nay cả nhà chết sạch chỉ còn lại một mình nên thật sự chẳng còn sợ gì nữa. Ông ta khinh thường hạng đao phủ như ta, sẽ không hé răng nửa lời đâu.”
Dạ Kiêu hỏi: “Giết ông ta là xong, dù sao cũng là kẻ đáng chết.”
Xích Tuyết lắc đầu: “Ông ta không thể chết.”
Dạ Kiêu hỏi: “Tại sao không thể chết? Cô muốn tra xem ông ta đã thoát thân bằng cách nào sao?”
Xích Tuyết không nói nữa.
Lát sau, nàng lật người lại, nhìn lên trần nhà, lẩm bẩm: “Ta phải đổi cách khác.”
Dạ Kiêu chưa từng thấy Xích Tuyết chấp nhất một chuyện đến vậy.
Khoảng thời gian sau đó, Xích Tuyết bắt đầu bận rộn việc khác. Nàng dẫn người điều tra ngóc ngách trong thành thật kỹ càng: chỗ tường thành yếu hại, đường cống thoát nước ngầm, góc chết có thể leo trèo, phong hỏa đài, kho quân khí… toàn bộ đều ghi chép lại rồi giao cho hắn.
Dạ Kiêu có một cảm giác kỳ lạ.
Một ngày kia, trước khi ra cửa, Xích Tuyết nói với hắn một câu: “Dạ Kiêu, mọi sự cẩn trọng.”
Nàng quay người rời đi, Dạ Kiêu bỗng gọi nàng lại.
Xích Tuyết ngoảnh đầu, nàng đứng ở bậu cửa, ngược sáng nhìn hắn. Dạ Kiêu mấp máy môi: “Cô cũng vậy.”
Xích Tuyết “hừ” một tiếng: “Đó là lẽ đương nhiên.”
Sau khi Xích Tuyết rời đi, Dạ Kiêu như bị ma xui quỷ khiến mà bám theo sau.
Theo dấu Xích Tuyết khó như lên trời, nàng vốn rất mẫn cảm, may mà giờ đây toàn bộ chú ý của nàng đều đặt ở nơi khác. Dạ Kiêu giữ khoảng cách thật xa, muôn phần cẩn trọng.
Hắn thấy nàng gây ra một đám cháy, sau đó mang theo một cái xác lén lút ra khỏi thành. Dạ Kiêu nhận ra cái xác đó, là Đường Hoàn. Nàng giết ông ta rồi sao?
Xích Tuyết quẳng xác Đường Hoàn ở bãi tha ma ngoài thành, bản thân lại không rời đi mà nấp vào cánh rừng đằng xa.
Dạ Kiêu thấy kỳ quái vô cùng, bèn cũng nấp trong bóng tối quan sát.
Một ngày sau, cái xác của Đường Hoàn cư nhiên động đậy.
Ông ta chưa chết, nhưng dường như bị thương rất nặng. Ông ta giống như một con sâu thịt khổng lồ, luồn lách ra khỏi đống xác chết, chậm chạp bò vào rừng sâu.
Xích Tuyết từ trên cây nhảy xuống, ngước nhìn bầu trời.
Ban ngày nắng gắt, ánh sáng mãnh liệt chiếu lên mặt khiến nàng không mở nổi mắt.
Dạ Kiêu hiểu rồi, nàng muốn đào tẩu.
Tất cả những chuyện này thực ra đã sớm có điềm báo. Khi ở thành Cảnh Thuận, nàng nói nàng đang dưỡng thương, nhưng thủ lĩnh Tả doanh vệ của Thân Quân Ti dù chỉ còn một hơi thở cũng có cách liên lạc với kinh sư. Thế mà nàng cả người lành lặn lại mất tích suốt mấy tháng, lời giải thích duy nhất là nàng không muốn liên lạc.
Hắn không hỏi kỹ, hắn cảm thấy có hỏi cũng chẳng ra kết quả.
Có nên cản nàng không?
Dạ Kiêu đứng xa nhìn lại, bỗng nhớ tới câu hỏi của huynh đệ Tôn gia.
— Tả Thống lĩnh đại nhân có phải chưa từng cười bao giờ không?
Từng cười chứ, hắn đã thấy rồi.
Hắn biết một bí mật của Xích Tuyết.
Nhiều năm trước vào một đêm giông bão, trường ngựa Mục Bắc đại loạn, rất nhiều ngựa chạy mất, con bạch mã tên Xích Tuyết cũng nằm trong số đó.
Nhưng thực ra, Xích Tuyết không phải chạy mất mà là được người ta thả đi.
Hắn đã thấy nàng đứng trên đường ranh giới sấm chớp giao thoa giữa trời và đất, nhìn theo con bạch mã gần như phát sáng trong màn mưa đen kịt kia chạy đi thật xa, thật xa, tựa như phi lên chín tầng mây. Rồi nàng cũng giống như bây giờ, ngẩng đầu thật cao. Khi ấy gió mưa quá lớn táp thẳng vào mặt nàng, khiến nàng chẳng thể mở mắt.
Sau đó, nàng đi về phía hắn, vung roi ngựa lên rồi bắt lấy, trên mặt mang theo ý cười nhàn nhạt.
Lồng ngực hắn đập thình thịch, kích động, căng thẳng, nhưng phần nhiều là một nỗi tò mò quái lạ.
Rốt cuộc là cảm giác thế nào mới có thể khiến nàng lộ ra biểu cảm như vậy?
Đến nay, hắn đã có chút hiểu ra rồi.
Bởi vì, ngay tại thời khắc này nơi này, dường như đã đến lượt hắn thả đi Xích Tuyết của mình.
Hắn thấy nàng lấy ra một bọc thuốc từ trong ngực, dốc thẳng vào miệng rồi không chút do dự tiến vào rừng chướng khí mênh mông.
Dạ Kiêu không biết nàng định đi đâu, làm gì, nhưng những điều đó có lẽ không quan trọng. Bởi năm đó khi nàng thả con bạch mã kia đi, điều gì nàng cũng không rõ, nàng chỉ hy vọng nó muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm.
Hắn phải quay về rồi. Sự việc đường đột, hắn phải giúp nàng nghĩ ra một cái cớ hoàn hảo không tì vết, còn phải giúp nàng ngăn chặn những cuộc truy tra sau này.
Đi trên đường, Dạ Kiêu vô thức bắt chước dáng vẻ của nàng năm xưa, tung thanh kiếm trong tay lên rồi bắt lấy.
Và rồi hắn cũng mỉm cười.
“Ồ, hóa ra là cảm giác thế này.”
Hắn nhìn lại cánh rừng vắng lặng.
“Một mai từ biệt, kiếm chỉ đông tây, tình xưa không quên, đôi bên bảo trọng.”
—
Đàn Hoa đã theo đuôi Đường Hoàn suốt chín tháng trời.
Đây thực sự là hạ sách mà nàng buộc phải nghĩ ra. Đường Hoàn tính tình cố chấp, dù nàng có hạ Khổ Lao lên người ông ta, ông ta cũng tuyệt không nói ra công thức giải dược. Cuối cùng Đàn Hoa nói với ông ta: “Được, chúc mừng ông.” Sau đó nàng đâm ông ta một dao, vứt xác ông ta ngoài thành.
Nhát dao này nàng đâm rất kỹ, lệch khỏi tim trong gang tấc. Nàng đánh cược ông ta vẫn còn tâm cầu sống.
Nàng đã cược thắng.
Nàng uống độc Khổ Lao, theo ông ta vào rừng. Những ngày sau đó, ông ta ăn gì nàng ăn nấy, ông ta uống gì nàng uống nấy.
Đàn Hoa cứ ngỡ mình sẽ phải chịu khổ sở vì kịch độc, nhưng chẳng ngờ mấy lần nàng cận kề cái chết nhất lại là vì đói. Đường Hoàn bị nàng tra tấn dã man hơn nửa tháng, vừa trúng độc, lại bị đâm, mạng mỏng như giấy, mỗi ngày chỉ ăn một chút cỏ cây, hoàn toàn không đủ cho Đàn Hoa tiêu hao.
Nhưng nàng không thể ăn thứ khác, nàng phải xác nhận quá trình giải độc của ông ta.
Trong núi sương tuyết luân chuyển, nàng hoàn toàn hòa mình vào rừng già. Nàng đồng hành cùng Đường Hoàn, quan sát cách ăn uống, phép điều tức của ông ta. Chẳng biết tự bao giờ, trên người nàng đã đầy rẫy nhọt độc và vết thương. Nàng ghi nhớ kỹ đặc tính của mỗi loại cỏ cây mình ăn vào, mày mò mối liên hệ giữa độc lý và giải dược.
Trong núi cách biệt thế gian, đến khi Đàn Hoa hoàn toàn xác nhận được phương pháp giải độc thì nàng cũng chẳng nhớ nổi đã bao lâu trôi qua. Đường Hoàn bình phục cơ thể, ông ta chuẩn bị rời rừng, Đàn Hoa xuất hiện trước mặt ông ta. Lần đầu tiên nàng thấy thần sắc tuyệt vọng trên mặt ông ta. Nàng ngồi xổm trước mặt ông ta hỏi: “Còn nhớ không?” Nàng đã quá lâu không mở miệng nói chuyện, giọng nói như tiếng đá mài, chẳng còn giống nàng nữa. “Ta nói chúc mừng ông, ông đoán xem, ta đang chúc mừng ông chuyện gì?”
Đường Hoàn già đến mức mí mắt xệ xuống, không thốt nổi một lời.
Đàn Hoa nói: “Ta đang chúc mừng ông, lại bị ta nhắm trúng rồi. Ông có biết, chuyện ông thông dâm với phi tử cũng là do ta tra ra không?”
Mí mắt nhăn nheo của ông ta run bần bật, ông ta thực sự đã từ bỏ rồi.
“Đường tướng, ta phải cảm ơn ông vì đã kiên cường bền bỉ đến thế.” Lòng bàn tay nàng bóp chặt yết hầu của ông ta, thản nhiên nói: “Đến đây, một chiêu đoạt mạng, nửa hơi là đứt, ta không để ông đau đớn đâu.”
Hình ảnh cuối cùng trong đời Đường Hoàn chính là bóng lưng của kẻ đao phủ Thân Quân Ti đầy thương tích này bước về phía ranh giới giữa rừng già và phố thị.
Đàn Hoa tìm thấy Dương Tri Hú.
Nàng cảm thấy, có lẽ mình đến hơi muộn rồi.
Nàng chạm vào khuôn mặt gầy gò như gỗ mục của chàng, thầm nói trong lòng: “Đừng trách ta nhé, Nhị ca. Ta thực sự không thông minh bằng chàng, ta đã tận lực rồi.”
Nàng nhìn ra đêm mưa xuân ngoài cửa sổ, làn mưa mỏng manh thanh mát như làn da của chàng.
Nàng nhìn đăm đăm vào cánh rừng đen kịt đằng xa. Những năm tháng sống nơi hoang dã khiến nàng nhạy cảm hơn trước rất nhiều.
Nàng để lại phương thuốc, dặn dò vị trưởng lão xong liền rời đi.
Nàng đội nón lá, cưỡi ngựa lao vào rừng.
Một mũi tên xé gió lao tới, nàng nghiêng người tránh né, nón lá bị bắn rơi. Phía sau, Kha Liệt cưỡi ngựa tay cầm cung đuổi theo.
Nàng biết ngay mà.
Nàng và Kha Liệt kịch chiến dọc đường. Kha Liệt vốn không phải đối thủ của nàng, nhưng hiện giờ nàng quá yếu. Chín tháng nay nàng gần như chưa có bữa nào no bụng, lại chịu khổ vì chướng khí kịch độc, nàng bị hắn dồn vào đường cùng.
Mưa vẫn rơi.
Mắt Kha Liệt đỏ ngầu, hắn chưa bao giờ tiến gần thời khắc báo thù đến thế. Hắn không dám lơ là dù chỉ một chút, đây là cơ hội cuối cùng của hắn rồi.
Nhưng dù nàng đã như thú dữ sa bẫy, vẫn hung hiểm vô cùng. Hắn bị nàng đè bên bờ vực thẳm, trong vực sâu gió cuồng gào thét, mắt nàng đỏ như nhỏ máu, nàng nghiến răng mắng: “Đồ chó mất nước! Còn sức mà cắn ta sao?”
Kha Liệt bị nàng khống chế huyệt đạo, không thể cử động. Hắn bỗng nhìn thấy gì đó, mắt nóng lên trào lệ, rồi hét lớn một tiếng, vậy mà lại tự bẻ gãy một cánh tay của chính mình.
Đàn Hoa quay đầu, chẳng có viện binh nào cả. Nàng sực nhận ra điều gì, ngẩng đầu nhìn lên.
Được lắm, được lắm, lại là các người.
Chỉ một thoáng phân tâm ấy, Kha Liệt lật ngược thế cờ, đè Đàn Hoa xuống sát mép vực.
Như vậy, Đàn Hoa nhìn càng rõ hơn.
Dù trời đang mưa cũng không che nổi vầng trăng sáng ngần kia.
Kha Liệt dốc hết sức bình sinh muốn đẩy nàng xuống vực, Đàn Hoa chết trân bấm chặt huyệt đạo trên vai hắn.
Sức lực của cả hai đang dần trôi đi. Cứ thế này, họ sẽ giữ nguyên tư thế giằng co ấy mà cùng rơi xuống vực sâu.
Ánh trăng lặng lẽ chứng kiến tất cả.
Đàn Hoa nhìn Kha Liệt, hắn có chút căng thẳng, nhưng tuyệt không buông tay.
Đàn Hoa bỗng bật cười.
Thiện ác có ranh giới, ân oán có nơi quy kết, lòng không vướng tạp niệm, tình cảm không đổi dời.
Muôn vàn duyên trần dẫn nàng đến đây trong kiếp này, cũng coi như trời đất đã sáng tỏ.
Nàng nhìn vầng trăng trên trời, thầm nói: “Đa tạ đã ban danh, đa tạ các người đã cho ta được thấy chàng lần cuối.”
Nàng nắm lấy cổ áo Kha Liệt, kéo hắn lại gần, khẽ nói: “Hãy để vầng trăng của ngươi an nghỉ đi.” Đoạn dùng sức đạp mạnh vào bụng hắn, đá hắn văng ngược lại đỉnh núi.
Cuồng phong từ vực sâu thổi thốc lên, Đàn Hoa ngẩng cao đầu, dang rộng hai tay.
Tường son điện tía chẳng phải điều ta cầu, lồng giam lưới trần chẳng phải điều ta nguyện. Ta là một con bạch mã tự do, đáng lẽ nên bỏ mình giữa núi rừng hoang dại…

