Ngoại truyện thiếu niên, những câu chuyện vụn vặt
────୨ৎ────
01. Tâm tình tuổi trẻ nồng đượm tựa rượu xuân
Mùa xuân năm Xương Ninh thứ mười bốn, vừa vặn rơi vào ngày sinh thần tròn tám tuổi của Lạc Vi.
Sinh thần của nàng đương lúc hoa nở rực rỡ nhất. Cây hải đường bên cửa sổ nay đã vươn cành xanh mướt, Lạc Vi vừa mở mắt đã thấy những nhành hoa trĩu đóa muôn hồng nghìn tía đang khẽ run rẩy trong làn gió xuân.
Sáng sớm hôm ấy, nàng tiến cung, trước tiên là tới bái kiến hoàng hậu.
Hoàng hậu bệnh tật quấn thân nằm trên giường bệnh đã nhiều năm, mỗi năm chỉ khi hoa xuân đua nở, tinh thần người mới có phần khởi sắc hơn đôi chút.
Lần đầu tiên nàng tới bái kiến người, xuyên qua những tán hải đường đậm nhạt đan xen trong ngự uyển của điện Quỳnh Hoa, nàng đã thoáng thấy bóng hình người phụ nữ đoan trang, kiều diễm bên khung cửa sổ biếc.
Dẫu cho nhiều năm, rất nhiều năm trôi qua, nàng cũng chẳng thể nào quên được khung cảnh ngày hôm ấy.
Các cung nhân xung quanh đều cúi đầu thật thấp, chỉ có nàng là chẳng sợ gì, ngẩng cao cổ nhìn.
Bởi thế, thứ nàng nhìn thấy trước tiên chính là búi tóc cao vút của người ấy.
Tóc đen búi cao như mây tụ, điểm xuyết đầy những món vàng rực rỡ, hình mây lành, lông phượng, muôn vẻ lấp lánh, ánh sáng rạng rỡ, một vẻ đẹp khiến người ta phải chấn động.
Thế nhưng, bên dưới sự hoa mỹ đến cực hạn ấy lại là một gương mặt trắng bệch không chút huyết sắc. Cái sắc trắng ấy tựa như tuyết lạnh, chẳng chút bóng bẩy, mà là một vẻ bệnh tật yếu ớt.
Dáng vẻ bệnh trạng mỹ lệ ấy đã kéo tầm mắt Lạc Vi rời khỏi mái tóc búi cao và lớp y phục rực rỡ. Nàng không chớp mắt nhìn người, gần như quên mất rằng người mình đang bái kiến chính là người phụ nữ tôn quý nhất của vương triều này.
Trong ngày xuân rực rỡ nhường kia, nàng lại chỉ cảm nhận được một nỗi u sầu nhàn nhạt cùng những niềm sầu muộn chẳng thể thốt nên lời.
Hoàng hậu vẫn chưa nhận ra sự hiện diện của nàng. Người cầm một chiếc quạt nhỏ đã ngả màu ố vàng, thong thả quạt đi những cánh hoa đang lững lờ trôi trước mắt.
Sau màn mưa hoa ấy, Lạc Vi chậm rãi quỳ xuống, hướng về phía người hành lễ:
"Hoàng hậu điện hạ thiên thu vô kỳ."
Nghe lời bái kiến, hoàng hậu chợt bừng tỉnh, người vươn bàn tay về phía nàng qua khung cửa sổ, khẽ mỉm cười dịu dàng:
"Lạc Vi đó ư? Đứa trẻ ngoan, mau đứng lên đi."
Kể từ dạo ấy, Lạc Vi thường cùng Tống Linh và Tống Dao Phong vào cung bái kiến hoàng hậu.
Hoàng hậu vốn là tri kỷ của mẫu thân nàng, thuở còn khuê các, hai người thường cùng nhau du ngoạn. Lạc Vi thường túc trực bên sập nằm của mẹ, lắng nghe mẹ kể về những chuyện xưa cũ với đôi mắt lấp lánh ánh sáng hoài niệm.
Mẹ nàng thuở nhỏ thân thể vốn yếu ớt, lại bị người nhà quản thúc nghiêm ngặt nên hiếm khi được cưỡi ngựa câu cá, bởi vậy bà vô cùng ngưỡng mộ hoàng hậu vì có thể chơi mã cầu. Có lần tại hội mã cầu, hoàng hậu đã cưỡi ngựa chở mẫu thân nàng chạy thẳng lên ngọn núi hoang bên hồ Kim Minh. Lúc mệt, hai người dừng chân nghỉ ngơi trong một ngôi đình hóng gió trên đỉnh núi, chẳng ngờ lại bắt gặp hoàng đế và Tô Chu Độ đang trốn sau đình lén lút nướng cá.
Khi ấy, hoàng đế vẫn còn là thái tử, còn phụ thân nàng cũng chỉ là thư đồng của ngài. Cả hai từ nhỏ lớn lên trong cung cấm, quy củ nghiêm ngặt đến mức mỗi món ăn được dùng mấy miếng cũng phải ghi nhớ để tiết chế. Bốn người họ đứng giữa làn khói nướng cá thơm nức mà đưa mắt nhìn nhau đầy ngỡ ngàng, cuối cùng vẫn là hoàng hậu không nhịn được, bật cười thành tiếng trước tiên.
Mỗi khi kể lại những chuyện này, trên gương mặt người lại thoáng hiện nét sinh động, rạng rỡ đầy phong tình. Lạc Vi cứ thế nhìn người đến ngẩn ngơ, sống mũi khẽ cay nồng, nhưng thuở ấy nàng còn quá nhỏ, chẳng thể hiểu nổi vì sao lòng mình lại dâng lên nỗi niềm ấy.
Năm nàng lên sáu, mẫu thân lâm bệnh rồi qua đời, chỉ khi ở bên cạnh hoàng hậu, nàng mới có thể lờ mờ cảm nhận lại được sự quan tâm ôn hậu và dịu dàng đến thế.
Hoàng hậu xoa nhẹ đôi bàn tay của Lạc Vi, lặp đi lặp lại lời dặn dò nàng phải thường xuyên cưỡi ngựa săn bắn để giữ cho thân thể được kiện khang. Nghe Tống Dao Phong nói, hoàng hậu ngày xưa vốn là người khỏe mạnh, phóng khoáng, dẫu là bên hồ Kim Minh hay trên núi Lộc Vân, bao đấng nam nhi cũng chẳng sánh bằng người.
Mãi cho đến một ngày Tết Trùng Cửu mấy năm trước, tiểu đệ của nàng và Tống Linh chào đời vào lúc hoàng hôn, nhưng vừa lọt lòng đã chẳng còn hơi thở. Đứa trẻ mệnh yểu ấy đã đánh gục cả sức khỏe lẫn tâm trí của hoàng hậu, khiến người bắt đầu những tháng ngày lâm bệnh triền miên. Những lúc rảnh rỗi, người chỉ thích nhìn lên bầu trời hoặc ngắm nhìn những hàng cây đầy hoa trong ngự uyển mà xuất thần.
Hai cô bé kể đến đây thì rơi vào im lặng hồi lâu. Lạc Vi chậm rãi hồi tưởng lại bộ trang sức vàng kim nặng nề mà nàng trông thấy ngay cái nhìn đầu tiên, rồi bắt chước người lớn, khẽ buông một tiếng thở dài.
___
Lạc Vi khẽ lắc đầu cho tan đi dòng suy nghĩ, nàng băng qua rừng hoa rực rỡ sắc hương để tiến vào bên trong điện Quỳnh Hoa.
Thần sắc của hoàng hậu năm nay xem chừng lại kém hơn năm ngoái đôi chút. Hoàng đế đã mời rất nhiều y quan trong cung lẫn ngoài triều, nhưng chẳng một ai có thể ngăn nổi sự héo úa và tàn phai của mầm sống đang dần lụi tắt này.
Thế nhưng, mỗi lần nhìn thấy Lạc Vi, người đều vô cùng vui vẻ, đôi mắt cong cong, nụ cười làm lộ ra hai lúm đồng tiền nhàn nhạt bên má.
Lạc Vi thường xuyên bị vẻ đẹp ấy làm cho ngẩn ngơ, đến khi sực tỉnh lại hay suy nghĩ vẩn vơ: Vì sao Tống Linh không thừa hưởng cặp lúm đồng tiền này nhỉ?
Thật muốn chạm thử một cái quá đi mất, nhưng chẳng dám, nàng đành quay sang chọc vào má của Tống Dao Phong cho bõ ghét.
Món quà sinh thần mà hoàng hậu tặng cho Lạc Vi là bốn chữ "Lễ Lan Nguyên Chỉ" do chính tay người chấp bút, cùng với một bộ y phục màu hồng phấn phỏng theo kiểu dáng cổ xưa.
"Đây là Sở phục, lấy lá sen làm áo, hoa sen làm xiêm, vô cùng xứng hợp với tên của con," Hoàng hậu mỉm cười nói với nàng, "Lạc, Vi, thảy đều là những chữ mà bậc quân tử hằng yêu mến. Chỉ có điều, sau này nếu có đứng gần nơi sông nước, hãy nhớ đừng để vạt áo bị thấm ướt nhé con."
Nhiều năm sau này, khi nàng lội nước bước đi bên bờ cỏ lau của một thời cổ viễn, gần như đã quên bẵng đi hàm ý thực sự của "hương thảo mỹ nhân", thì giữa một trận mưa lớn bất chợt, nàng mới bừng tỉnh thấu hiểu lời dặn "đừng để vạt áo bị thấm ướt" năm nào rốt cuộc mang ý nghĩa gì.
Lạc Vi thay bộ khúc cứ phong nhã đến cực điểm kia, vốn dĩ định trực tiếp đi tìm Tống Linh và Tống Dao Phong, nhưng trước khi đi lại suy nghĩ một chút, quyết ý quay lại điện Quỳnh Hoa để hoàng hậu ngắm nhìn trước.
Nàng vốn là khách quen, mấy vị lão cung nhân hiền từ thảy đều nhận ra nàng nên không hề ngăn cản, chỉ khẽ tiếng nhắc nhở rằng bệ hạ vừa mới tới, đang cùng nương nương dùng bữa.
Thế là Lạc Vi rón rén tiến gần về phía chính điện, định bụng sẽ tạo cho hai người một sự bất ngờ. Thế nhưng, nàng vừa bước tới gần được vài bước đã thấy vị chưởng sự cung nhân bên cạnh hoàng hậu sắc mặt nghiêm trọng bước ra, xua tất cả mọi người ra xa.
Lạc Vi trong lòng đầy tò mò, nhưng vẫn giữ đúng quy củ, không tiếp tục tiến lại gần. Nàng lần theo lan can, định đi đường vòng qua khu vườn phía sau điện Quỳnh Hoa để tới đài Cao Dương nằm giữa rừng cây rậm rạp.
Chẳng ngờ vừa mới đi tới sau điện, cách một ô cửa sổ tròn họa tiết trăng khuyết, nàng bỗng nghe thấy tiếng ngọc vỡ vang lên lanh lảnh.
Đế hậu hai người đang đứng trước cửa sổ hoa, dưới chân là một miếng ngọc quyết đã vỡ làm đôi.
Tiến thêm một bước nữa nhất định sẽ bị họ phát hiện, Lạc Vi rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan, đành phải khom lưng lẩn trốn sau bụi cỏ ở một phía.
Hai người họ dường như đều đang xuất thần, chẳng một ai chú ý tới nàng.
Sau một khoảng lặng dài dằng dặc, ngay lúc Lạc Vi bắt đầu thấy lưng mỏi chân đau, tưởng chừng hai người sẽ không nói thêm gì nữa thì hoàng hậu đột nhiên lên tiếng.
Người hỏi bằng một tông giọng nhẹ bẫng tựa tơ trời, một âm thanh mà Lạc Vi chưa từng nghe qua: "Bệ hạ thấy sao?"
Cánh hoa lay động xào xạc giữa không trung, lá hoa ngày xuân tươi tốt rậm rạp, một màu xanh um tùm bao phủ.
Thế nhưng vị hoàng hậu vốn luôn đoan trang, tình tứ trong tâm khảm Lạc Vi, lúc này lại dùng một tông giọng nghẹn ngào đến tột cùng mà chậm rãi nói: "... Dung Tiêu, chàng tưởng rằng thiếp gả cho chàng, làm hoàng hậu bấy nhiêu năm trời, thì thật sự có thể biến thành một pho tượng thần được phụng thờ cao cao trên Lầu Nhiên Chúc kia sao?"
"Thiếp biết rõ, giữa thiếp và chàng đã là điều hiếm có trên đời. Hậu cung của chàng chỉ có dăm ba người, tử tự so với tiền triều cũng chẳng tính là nhiều. Bao năm qua, chàng yêu trọng thiếp, kính nhường thiếp, chưa từng nghi kỵ, cũng chẳng hề đổi thay. A Đường và Thư Khang đều là những đứa trẻ ngoan, ngoại trừ đứa nhỏ đã khuất kia... Bởi thế nên hôm nay chàng mới thực tâm không hiểu, chẳng rõ vì sao bao năm qua thiếp lại u uất không vui đến nhường này."
Có vài cánh hoa lưa thưa thổi bay vào mắt Lạc Vi, nàng đưa tay dụi, nhưng càng dụi lại càng thấy đau, trên mu bàn tay thấm vài vệt nước loang.
Hoàng đế im lặng hồi lâu mới lên tiếng: "Đến hôm nay, trẫm đã hiểu rồi."
Hoàng hậu khẽ cười một tiếng: "Bấy lâu nay vì ngoại hoạn nơi biên thùy phía Bắc, trong triều chẳng được thái bình như những năm xưa. Thiếp biết chàng có nỗi khổ tâm bất đắc dĩ, cũng thấu rõ lòng chàng, thiếp nguyện ý cảm thông, nhưng thiếp không cách nào làm được. Chàng muốn nạp phi, thiếp không thể kìm nén lòng đố kỵ, thiếp mất đi đứa con, cũng không sao thôi oán trách, thôi đớn đau. Thiếp cứ ngỡ mình có thể nuốt trôi những điều ấy, để không đến mức khiến đôi ta phải đi tới cảnh "lan nhân húc quả", chán ghét lẫn nhau. Thế nhưng giờ đây thiếp ngày càng cảm thấy mơ hồ, dạo gần đây không muốn gặp chàng, chẳng qua cũng chỉ là đang trốn chạy mà thôi."
(*) Lan nhân húc quả (兰因絮果): Ví von tình yêu thuở đầu đẹp đẽ như hoa lan (lan nhân), nhưng kết cục lại mong manh, tan tác như hoa liễu (húc quả).
Hoàng đế vươn tay nhặt lại miếng ngọc quyết đã vỡ vụn kia, trầm giọng nói: "Thuở đôi ta mới gặp nhau bên ngoài hồ Kim Minh, nàng mới vui vẻ, rạng rỡ biết bao. Nếu năm đó nàng chọn người ấy, dẫu sau này có phải đi tới Bắc cảnh, cũng sẽ không đến mức... Đưa nàng vào cung, là trẫm đã sai rồi."
"Không phải chàng sai, mà là thiếp sai," Hoàng hậu đáp lời, "Là thiếp đã nhất quyết muốn đến bên cạnh bầu bạn với chàng, là thiếp cứ ngỡ bản thân có thể nghĩ thông suốt được mọi lẽ. Con người ta vốn dĩ tham lam khôn cùng, muốn có tình yêu, muốn có sự bầu bạn vĩnh hằng, muốn có sự tin tưởng không cần lời đáp, dẫu đã hạnh phúc hơn người khác biết bao nhiêu, cũng chẳng bao giờ biết đủ."
Lạc Vi nghe thấy giọng nói của Hoàng đế đang run rẩy: "Khanh Khanh, nàng hối hận rồi sao?"
Hoàng hậu lại không trả lời câu hỏi của hắn, chỉ nói: "Chàng xem, cây hải đường đã mọc cao thế kia rồi. Năm đó chúng ta cùng nhau trồng chúng, vạn dặm đường hoa đồng, sớm chiều chuyện chẳng dứt, thiếp... sẽ không quên đâu."
(*) Đồng hoa vạn lý lộ, liên triều ngữ bất tức (桐花万里路、连朝语不息): Đây là một câu thơ nổi tiếng của Nguyên Chẩn, miêu tả cảnh tượng hai người tâm đầu ý hợp, cùng đi bên nhau suốt quãng đường dài rợp bóng hoa đồng, trò chuyện từ sáng tới tối không dứt.
Sau câu nói ấy lại là một khoảng lặng kéo dài dằng dặc. Lạc Vi đợi mãi cũng chẳng nghe thấy ai nói thêm lời nào nữa, chỉ nghe thấy tiếng bước chân rời xa dần khung cửa sổ hoa.
Nàng ngoái đầu nhìn lại một cái rồi gạt lớp cỏ sang hai bên, tay túm vạt váy chạy thoăn thoắt ra khỏi ngự uyển.
Lạc Vi chạy một mạch tới rìa rừng cây rậm rạp, vừa mới rẽ qua khúc ngoặt thì suýt chút nữa đã va thẳng vào một đội hộ vệ trong cung. May thay có một bàn tay kịp thời xuất hiện, kéo nàng sang một bên.
Hương đàn hương thoang thoảng quẩn quanh nơi cánh mũi, Lạc Vi đâm sầm vào bờ vai của thiếu niên, lập tức đem hết thảy tâm sự quăng ra sau đầu, hớn hở reo lên: "Nhị ca ca!"
Tống Linh vỗ vỗ vai nàng, đợi đội thị vệ kia đi khuất mới rảnh rang ngắm nhìn bộ váy mới của Lạc Vi: "Là Sở phục sao?"
"Là nương nương ban tặng cho muội đấy," Lạc Vi vừa cùng hắn đi sâu vào rừng cây, vừa không quên xoay vài vòng, "Có đẹp không huynh?"
Tống Linh không đáp lời ngay. Lạc Vi dừng bước, quay đầu lại nhìn, đúng lúc ấy ngón tay hắn khẽ lướt qua gò má nàng, nhặt lấy một đóa hải đường vừa rụng xuống vai.
Hai người bất chợt chạm ánh mắt nhau, Tống Linh khẽ mỉm cười, ngón tay theo đà trượt lên trên gò má nàng, tựa như muốn nựng má nàng một cái. Thế nhưng sực nhớ ra nàng vốn không thích bị nựng má, hắn liền không làm tiếp nữa, chỉ nhẹ nhàng v**t v* một chút.
"Rất đẹp." Hắn nói.
Món quà sinh thần Tống Linh tặng nàng là một bức họa. Trong tranh là dãy núi xanh miên man, một con đường làng mùa gặt trĩu quả, đó là cảnh sắc mà hắn đã tận mắt trông thấy trên đường theo Phương Hạc Tri về thư viện tại quê nhà Hứa Châu năm ngoái.
Hai người ngồi bên bàn đá trên đài Cao Dương, tỉ mẩn thưởng lãm bức họa ấy. Tống Linh vô cùng kiên nhẫn chỉ vào từng cảnh vật trong tranh để giải đáp thắc mắc cho Lạc Vi. Từ lúc sinh ra tới giờ Lạc Vi chưa từng rời khỏi Biện Đô, trong lòng không khỏi ngưỡng mộ khôn cùng:
"Nơi này đẹp quá đi mất, sau này muội cũng có thể tới đó chứ?"
"Đợi muội lớn thêm chút nữa, ta sẽ cưỡi ngựa đưa muội đi," Tống Linh xoa đầu nàng, "Muội nhìn ngọn núi này xem, nó tên là Yến Sơn. Thầy nói trên núi có một ngôi cổ tự từ thời Tứ triều, mái vòm được dát bằng vàng ròng, ta vẫn chưa được tận mắt thấy bao giờ, chúng ta sẽ cùng đi xem."
"Dạ!" Lạc Vi cười rạng rỡ, "Đến lúc đó muội sẽ đem bức họa này cúng dường trong chùa, Nhị ca ca nhất định không được nuốt lời đâu đấy."
Nàng cẩn thận cuộn bức họa lại thật chỉn chu, rồi cùng Tống Linh đi tìm Tống Dao Phong.
Hôm nay là sinh thần của nàng, Tô Chu Độ vừa quá trưa đã cho mọi người nghỉ tại Tư Thiện đường, chỉ dặn dò Lạc Vi nhớ tới Minh Quang môn hội họp để lên xe về phủ vào lúc hoàng hôn.
Lạc Vi vốn luôn yêu thích ngày sinh thần của mình. Cứ vào ngày này, hay ngày sinh của Tống Dao Phong, hai đứa nhỏ lại ríu rít chạy ngược chạy xuôi, ghé thăm khắp lượt các cung điện. Hoàng hậu trị vì hậu cung hòa mục, chẳng ai lại không yêu mến hai cô bé xinh xắn như tạc từ phấn chạm từ ngọc thế này. Chạy một vòng như thế, chỉ riêng quà mừng thôi cũng đã nhận tới mỏi cả tay.
Năm nay vừa khéo Tống Linh rảnh rang, bèn tháp tùng hai nàng đi một chuyến. Hắn còn chu đáo sắp xếp gia bộc từ sớm, giúp Lạc Vi kiểm kê và thu dọn hết thảy quà cáp nhận được để chuyển trước ra cỗ xe ngựa của Tô phủ.
Dạo chơi đến khi thấm mệt, cả ba người cùng nhau ra hồ Hội Linh chèo thuyền.
"Món quà của Thần phi nương nương là chén lưu ly phải không? Muội mới liếc qua một cái, chắc chắn là Tống Kỳ lại lải nhải mấy câu 'Lưu ly chung, hổ phách nồng' trước mặt mẫu phi hắn rồi. Mà nhắc mới nhớ, bản thân Tống Kỳ tặng quà gì thế?"
(*) Lưu ly chung, hổ phách nồng (琉璃钟、琥珀浓): Đây là câu đầu trong bài thơ Tương Tiến Tửu của Lý Hạ, miêu tả cảnh tiệc tùng xa hoa.
"Huynh ấy tặng muội một bài thơ, nhưng muội đọc đi đọc lại mấy lần vẫn chẳng hiểu gì cả."
"Mau đưa ta xem nào... Hừm... Mấy câu này nghĩa là gì chứ? Một bài thơ chua loét, hắn cũng thật dày mặt mà tặng cho được. Nhất định hắn lại huênh hoang trước mặt muội, bảo rằng sau này muốn làm Trần Vương năm xưa, thu hết tài khí trong thiên hạ về mình chứ gì?"
"Muội thấy cũng tốt mà, vạn nhất huynh ấy làm được thật thì sao?"
"... Hắn còn chẳng bằng Ninh Lạc, ít ra thơ của Ninh Lạc ta còn đọc hiểu được."
Hai cô bé ríu rít trò chuyện suốt quãng đường, mãi cho đến khi tà dương buông xuống, Tống Dao Phong mới luyến tiếc từ biệt nàng để theo cung nhân trở về.
Tống Linh đích thân tiễn Lạc Vi ra khỏi cung, hai người cùng sánh bước bên nhau trên con đường ngập tràn cánh hoa bay.
Vì tuổi còn nhỏ nên cũng chẳng cần kiêng dè chi nhiều, Lạc Vi khoác lấy cánh tay huynh ấy, cười hỏi: "Nhị ca ca, sao vừa nãy huynh chẳng nói câu nào thế?"
Tống Linh đáp: "Nghe hai muội nói chuyện, ta thấy vô cùng thú vị."
Lạc Vi hỏi lại: "Thật không? Huynh không chê bọn muội ồn ào sao?"
Tống Linh lắc đầu: "Làm sao có chuyện đó được?"
Hắn nhìn nụ cười rạng rỡ trên gương mặt Lạc Vi, chỉ cảm thấy trong lòng dâng lên một nỗi niềm vui sướng vô cùng bình lặng: "Hôm nay muội có thấy vui không?"
Lạc Vi chẳng chút do dự mà đáp lời: "Tất nhiên rồi ạ! Cha bảo tối nay còn bảo huynh trưởng nấu mì trường thọ cho muội nữa cơ! Hôm nay ai thấy muội cũng đều chúc mừng một câu, không chỉ muội vui mà mọi người trông thấy cũng đều vui vẻ lây. Muội muốn mọi người cứ mãi mãi vui vẻ như thế này."
Lời vừa dứt, nàng chợt nhớ lại cuộc đối thoại nghe được sau cửa sổ hoa lúc sáng sớm.
Mới chỉ một nén nhang trước đó, vị hoàng hậu dịu dàng mỹ lệ còn xoa đầu nàng, khen ngợi nàng là "nữ trung quân tử". Thế mà chỉ trong chớp mắt, miếng ngọc quyết rơi rụng trên nền đất, kéo theo cả lớp mặt nạ Người dày công thêu dệt cũng vỡ tan thành từng mảnh vụn.
Lạc Vi đã cố tình quên đi những lời lẽ bi thương mà mình chẳng thể thấu hiểu hết ấy, thậm chí còn hoài nghi liệu chúng có phải chỉ là ảo giác của bản thân. Thế nhưng lúc này sực nhớ lại, nàng mới nhận ra chúng rõ rệt và sâu đậm biết nhường nào; suốt cả một ngày trôi qua, nàng chẳng hề quên đi lấy một chữ.
Tống Linh vẫn còn đang ngạc nhiên nhướng mày vì câu nói "muốn mọi người đều vui vẻ" của nàng. Hắn vừa định lên tiếng khen ngợi thì thấy Lạc Vi bỗng dưng thẫn thờ, đành bất lực đưa tay quơ quơ trước mặt nàng: "Đang nghĩ gì thế?"
Lạc Vi đột ngột ngẩng đầu: "Các vị nương nương ở các cung mà hôm nay chúng ta tới bái phỏng..."
Nói đến đây, nàng lại nhất quyết không chịu nói tiếp nữa, mặc cho Tống Linh có dùng đủ mọi cách để gặng hỏi, nàng vẫn chẳng hề hở môi. Hai người men theo phía cuối con đường cung đạo, đi đến trước cửa Minh Quang môn. Lạc Vi ngước nhìn bức tường cung cao ngất ngưởng, chợt nảy ra ý nghĩ kỳ quái: "Chúng ta có thể lên đó không huynh?"
"Tất nhiên là được rồi."
Tống Linh dù chẳng hiểu mô tê gì nhưng vẫn sai đám hộ vệ lui ra, dẫn Lạc Vi trèo lên thành tường.
Tường cung được xây cao sừng sững, đứng ở nơi này có thể thu trọn cả hoàng thành vào trong tầm mắt. Những mái điện dát vàng rực rỡ chạm rồng trổ phượng, hoặc điểm xuyết bằng lưu ly, dưới ánh hoàng hôn đang dần buông xuống trông thật tráng lệ và huy hoàng.
Lạc Vi nheo mắt nhìn quanh quất một hồi, thẫn thờ giây lát rồi mới đăm chiêu hỏi: "Nhị ca ca, trong bức họa kia của huynh có phải có một cặp diều lớn không?"
Tống Linh đáp: "Đó là hai con nhạn lớn."
Lạc Vi chẳng mảy may để tâm đến lời hắn, nàng bám vào lớp gạch đá bên cạnh, toan leo thẳng lên mặt thành. Tống Linh giật mình hốt hoảng, vội vàng nắm lấy tay nàng: "Đứng ở đó nguy hiểm lắm, mau xuống đây."
Chẳng đợi nàng kịp phản ứng, hắn đã vươn tay ôm lấy eo nàng, bế xốc nàng xuống. Tuy vậy, Tống Linh vẫn không đặt nàng trở lại mặt đất ngay: "Muội muốn nhìn xa hơn chút nữa sao?"
Lạc Vi lắc đầu, nàng an tâm dang rộng đôi tay trong vòng tay của hắn: "Muội chỉ là đột nhiên muốn làm một con nhạn lớn... Giá mà muội cũng có đôi cánh thì tốt biết mấy, muốn tới Hứa Châu thì bay đậu lên mái vàng của cổ tự, muốn về cung thì sà xuống những lớp ngói lưu ly."
Nàng nhắm nghiền mắt, lẩm bẩm có chút không hài lòng: "Đáng tiếc bây giờ chẳng có gió, nếu gió lớn hơn một chút, có phải sẽ giống như đang bay hơn không?"
Lời còn chưa dứt, Tống Linh bỗng nhiên ôm lấy nàng, sải bước chạy thật nhanh trên đoạn tường thành dài dằng dặc.
"Dang tay ra nào!"
Lạc Vi nghe lời nhắm mắt, dang rộng hai tay, hướng về phía vầng thái dương to lớn, vàng rực rỡ trước mặt mà "bay" đi.
"Muội đã bay lên chưa?"
Nàng cuối cùng cũng không nhịn được mà bật cười thành tiếng, gục đầu vào vai Tống Linh đáp: "Bay lên rồi, đa tạ Nhị ca ca."
Lạc Vi nằm xuống, kề sát bên tai hắn, lại ngửi thấy mùi đàn hương thanh sạch và thơm ngát kia.
Đây chính là mùi hương trên người hắn, cũng là loại hương thường dùng nhất trong cung của hoàng hậu.
Nàng lại nhớ về giọng nói dịu dàng mà u sầu ấy, bất chợt nảy sinh một nỗi thôi thúc muốn trào nước mắt. Nàng dán sát tai hắn, hỏi khẽ: "Nhị ca ca, sau này huynh sẽ làm hoàng đế chứ?"
Tống Linh hơi khựng lại, vòng tay đang ôm nàng vẫn không hề nới lỏng, tựa như đang suy nghĩ điều gì.
Ngẫm ngợi hồi lâu, huynh ấy mới trịnh trọng trả lời: "Ta cũng muốn khiến thiên hạ thái bình, ai nấy đều vui vẻ. Cha nói, chỉ có làm hoàng đế mới có thể thực hiện được nguyện ước đó."
Lạc Vi thốt lên: "Nhưng muội không muốn làm hoàng hậu đâu."
Lần này, Tống Linh hoàn toàn đờ người ra. Hắn vô thức nới lỏng tay, đặt nàng xuống đất, đôi môi mấp máy nhưng cuối cùng chẳng thốt nên lời.
Trong đầu Lạc Vi lúc này thảy đều là hình ảnh miếng ngọc quyết vỡ tan ban sáng. "Lan nhân húc quả" rốt cuộc mang nghĩa gì?
Từ phía xa vọng lại tiếng chuông khánh trầm hùng, làm kinh động cả một đàn chim đang vỗ cánh bay tản mác. Lạc Vi sực tỉnh, nhớ lại lời dặn của Tô Chu Độ, nàng vội vã đi xuống thành lâu. Đi được một quãng xa, nàng mới phát hiện Tống Linh không hề đi theo mình.
Hắn đứng cô độc giữa bầu trời nhuộm sắc đỏ thẫm của bóng chiều tà, để lại một bóng hình lặng lẽ. Lạc Vi toan cất tiếng gọi hắn, nhưng lại chẳng rõ hắn đang suy nghĩ điều gì, đành thôi.
Cho đến khi đã ra khỏi Minh Quang môn, Lạc Vi quay đầu nhìn lại, thấy Tống Linh vẫn đứng nguyên tại đó ngắm hoàng hôn.
Cửa cung sắp đóng, nàng chợt nảy sinh một nỗi thôi thúc mãnh liệt, muốn băng ngược qua Minh Quang môn để trèo lên tường thành một lần nữa.
Dẫu chẳng nói lời nào, dẫu không biết hắn đang nghĩ gì, cũng chẳng rõ bản thân đang trăn trở điều chi, nàng chỉ cảm thấy lồng ngực dâng lên một cơn đau âm ỉ, ngột ngạt đến lạ lùng.
Dẫu cho là vầng hoàng hôn rạng rỡ và mỹ lệ đến nhường này, cũng chẳng nên để hắn phải cô độc đứng đó ngắm nhìn một mình.
Nhất định phải có một ai đó đứng bên cạnh hắn mới phải.
02. Non tây bóng xế, chẳng thể nán lâu
Năm Xương Ninh thứ mười chín, vẫn là vào một mùa xuân.
Lạc Vi năm ấy tròn mười ba tuổi, nàng búi cao mái tóc, cùng Tống Linh lên đường tìm đến thư viện Phóng Hạc ở Hứa Châu.
Phương Hạc Tri khi ấy đã là bậc đại nho danh tiếng lẫy lừng thiên hạ, dẫu đi trên đường phố Biện Đô cũng chẳng thiếu hạng quyền quý cao sang vây quanh săn đón. Thế nhưng một người như vậy, khi đã về tới địa giới Hứa Châu, ra cửa chẳng ngồi kiệu, xuống phố mặc nông phục. Đám học trò nhỏ trước cổng thư viện vừa nhác thấy bóng dáng ông đã lập tức ùa tới vây quanh:
"Chính Thủ tiên sinh, cuối cùng người cũng chịu về rồi! Những ngày qua chỉ có Cam tiên sinh ở đây, ngày nào cũng bắt chúng con chép sách đến khổ!"
Phương Hạc Tri vuốt râu cười lớn: "Cam tiên sinh cũng là muốn tốt cho các con mà thôi."
Đất Hứa Châu từ cổ chí kim vốn là cái nôi sản sinh ra trạng nguyên, ngay đến con em nhà nông cũng tìm đến đây đèn sách. Thư viện Phóng Hạc trải dài dằng dặc mấy dặm đường, không biết bao nhiêu vị văn thần có tên tuổi trong triều đình đều đã từng kinh qua việc giảng dạy nơi đây.
Ngay cả mấy bộ đại điển của Cam Thị lang cũng được biên soạn hoàn thành tại chính vùng đất địa linh nhân kiệt này.
Tống Kỳ những năm trước đã từng tới đây nên năm nay không theo cùng, Tống Dao Phong vốn chẳng ưa chuyện hành trình xóc nảy đường xa nên cũng thoái thác không đi.
Tống Chi Vũ học hành vô cùng khắc khổ, ngày ngày đều muốn tỉ thí với Lạc Vi. Lạc Vi chẳng lấy làm phiền mà còn vui vẻ hưởng ứng, những ngày tháng đấu trí đấu dũng cùng nàng ta ngược lại còn mang đến một dư vị thú vị riêng biệt.
Cùng học với họ còn có anh em nhà họ Chu đến từ Giang Nam, và cả Bách Lệnh Thành - kẻ ngày nào cũng rú rú ở hàng ghế cuối cùng để ngủ nướng.
Mọi người bảo nhau rằng, thư viện Phóng Hạc này ban đầu vốn do ông bà của anh em nhà họ Chu sáng lập. Chu Sở Ngâm tuy xuất thân từ vùng Giang Nam nhưng đã gặp gỡ Lạc Vi rất nhiều lần, hắn là huynh đệ kết nghĩa của Tống Linh, mối thâm giao từ thuở thôi nôi, năm nào cũng dành ra một hai tháng tới Biện Đô.
Chu Tuyết Sơ vốn chẳng mặn mà với đèn sách. Mỗi khi tan học, Lạc Vi lại tranh thủ lúc Chu Sở Ngâm và Tống Linh đang đánh cờ để cùng Chu Tuyết Sơ và Bách Lệnh Thành chạy nhảy khắp nơi.
Chu Tuyết Sơ vừa biết trèo cây hái quả, lại vừa thạo bắn cung săn thỏ. Có điều, Lạc Vi cứ hễ nhìn thấy thỏ là lại nhớ tới lũ thỏ mà Tống Linh nuôi trong cung, bởi vậy kết quả của những buổi đi săn thường là hai cô bé chụm đầu vào nhau, xem Bách Lệnh Thành thuần thục băng bó cho mấy cái chân thỏ bị thương.
Những ngày tháng vô lo vô nghĩ ấy kéo dài chẳng được bao lâu thì vùng Hứa Châu xảy ra một trận nạn châu chấu.
Tống Chi Vũ đã sớm trở về Biện Đô. Chu Tuyết Sơ mấy ngày trước cũng theo Bách Lệnh Thành đi về phía Tây Nam. Tô Thời Dự gửi thư tới, nói rằng phụ thân vô cùng lo lắng, muốn Lạc Vi sớm quay về phủ.
Thế nhưng Tống Linh lại tiếp thánh chỉ, phải ở lại để trị nạn châu chấu.
Lạc Vi thu xếp xong hành trang, ngồi xe ngựa xuống núi.
Nàng đi ngang qua những cánh đồng xanh rì lúc mới đến, giờ đây lại thấy đám mạ non đã đổ rạp ngổn ngang.
Tống Linh đang xắn ống quần đứng dưới ruộng trò chuyện cùng lão nông. Trông thấy xe ngựa của nàng, hắn vốn định tiến lên chào hỏi một câu, nhưng chẳng rõ vì sao cuối cùng lại thôi. Lạc Vi vén rèm ngoái đầu nhìn lại, phát hiện mình đã đi được một quãng xa, Tống Linh buông nông cụ trong tay xuống, hướng về phía con đường mà dõi theo nàng bằng một ánh mắt xa xăm.
Nàng chợt nhớ tới buổi hoàng hôn trong nội cung của rất nhiều năm về trước. Trước khi bước ra khỏi Minh Quang môn, nàng cũng từng nhìn thấy một bóng hình lặng lẽ và cô độc dưới ánh tà dương như thế này.
Khi ấy, cách một cánh cửa cung, nàng đã cảm thấy không muốn để hắn phải đứng đó một mình.
Giờ đây, cánh cửa cung nặng nề ấy đã biến mất rồi, cớ sao nàng lại phải đi xa?
Lạc Vi bừng tỉnh như vừa choàng tỉnh khỏi giấc mộng, nàng nắm chặt rèm xe, hét lớn một tiếng: "Dừng xe!"
Nàng nhảy xuống từ càng xe, trông thấy vị đại nương từng nhiệt tình chào đón mình năm ấy nay đang vác cuốc ngồi bên bờ ruộng mà quẹt nước mắt.
Hết thảy những nụ cười từng hiện diện trên gương mặt họ giờ đây đã hoàn toàn biến mất.
Tống Linh chạy đến gần, thấy Lạc Vi đôi mắt hoe đỏ, đang nhìn hắn nở một nụ cười.
"Nhị ca ca, muội cũng muốn ở lại."
Lần đầu tiên trong đời, nàng vén cao vạt váy, thân thiết áp sát vào mảnh đất mẹ đã nuôi dưỡng nhân gian. Cảm giác bùn cát chảy qua mu bàn tay, nỗi xót xa khi vô tình nhổ bật cả mạ non lúc làm cỏ, hay niềm vui sướng khi tận mắt thấy lũ cào cào rơi rụng xuống đất, mọi cảm giác đều trở nên chân thực vô cùng.
Khi mùa hạ tới, nạn châu chấu cuối cùng cũng được dập tắt. Nàng cùng Tống Linh chủ trì việc cứu trợ thiên tai cho các châu huyện, cố gắng hết sức để giảm thiểu những tai ương mà trận thiên tai này gây ra cho người dân.
Phương Hạc Tri dẫn hai người học trò lên Yến Sơn bái chùa Cư Hóa, khi đi ngang qua đình Phóng Hạc ở sườn núi nơi ông thường lui tới, bỗng nhất thời nảy ý định, bảo tiểu đồng ôm cây đàn của mình lại.
Lạc Vi gảy cho ông một khúc, Tống Linh búng kiếm hòa âm theo. Phương Hạc Tri đối diện với rặng thanh sơn, tùy ý ngâm một khúc "Giang Thần Tử".
"Đợi khi khúc nhạc tàn rồi, khoảnh đầu chẳng thấy núi đồi xanh xanh."
Khúc nhạc vừa dứt, Phương Hạc Tri huýt một tiếng sáo dài, sau đó cất giọng cao tiếng gọi:
"Về đi thôi, về đi thôi! Non tây bóng xế, chẳng thể nán lâu." [1]
Lạc Vi kinh ngạc khôn cùng khi trông thấy hai con tuyết nhạn băng qua đỉnh núi bay đến sát gần, lượn quanh đình Phóng Hạc như đang nhảy múa.
"Đây là đôi nhạn ta nuôi khi trước, chớp mắt đã lớn thế này rồi."
Phương Hạc Tri tựa như một đứa trẻ, leo lên lan can đình Phóng Hạc, phất tay vẫy gọi. Đôi tuyết nhạn thân thiết quẩn quanh vạt áo rộng thùng thình của ông mà bay lượn, phát ra những tiếng kêu thanh tao vút tận trời xanh.
Lạc Vi nhìn đến ngây người, mãi đến khi một chiếc lông vũ trắng muốt rơi rụng vào lòng bàn tay, nàng mới dám tin vào khung cảnh trước mắt mình là thật.
Tống Linh ghé sát bên tai nàng, nói nhỏ: "Thầy từ nhỏ đã tinh thông thuật dẫn hạc, sau khi hạc trắng bay đi thì đổi lại là hai con tuyết nhạn này. Lần đầu ta tới đây cũng kinh ngạc như gặp thiên nhân, còn đem chúng vẽ vào tranh, muội còn nhớ không? Thầy đúng là bậc phong nhã hiếm thấy."
Phương Hạc Tri dường như nghe thấy lời hắn, quay người cười hì hì. Ông phất tay áo một cái, đôi tuyết nhạn liền quyến luyến không rời mà bay đi mất.
Tống Linh và Lạc Vi vội vàng một trái một phải đỡ ông xuống. Phương Hạc Tri khoác vai hai người, cười nói: "Đợi khi chúng có con, ta sẽ để cho hai đứa nuôi... À không, hạc và nhạn đều không thể nuôi trong lầu vàng gác ngọc, thôi thì cứ để cho Sở Ngâm thì tốt hơn."
Lạc Vi cuống quýt đáp: "Không sao, không sao cả, cứ nuôi ngay trên ngọn núi này là được. Thầy đã mở lời rồi, sao có thể nuốt lời cho được!"
Ba người đang chuẩn bị tiếp tục leo núi thì một người có dáng vẻ thị vệ vội vã chạy ngược con đường núi đi lên. Tống Linh còn chưa kịp tỏ vẻ ngạc nhiên, người kia đã cúi người hành lễ, trầm giọng nói: "Bệ hạ có khẩu dụ, triệu điện hạ tốc tốc hồi kinh."
Tống Linh nghi hoặc hỏi: "Có chuyện gì?"
Người thị vệ ngập ngừng giây lát, nhỏ giọng đáp: "Điện hạ nén bi thương, hoàng hậu nương nương... đã băng thệ rồi."
03. Lưng nhạn chở bóng tà, ráng chiều hồng sắp lặn
Năm Lạc Vi làm lễ cập kê, mùng một Tết tuyết phủ trắng trời, nhưng giữa màn tuyết ấy, ánh trăng lại thanh trong như nước, dân chúng khắp kinh thành đều xưng tụng là điềm lành.
Để chúc mừng cảnh này, cũng là để tẩy sạch những tai ách của mấy năm qua, hoàng đế hạ lệnh đổi niên hiệu thành Thiên Thú.
Sinh thần của Tống Linh rơi vào Thượng Nguyên, bởi vậy hằng năm vào ngày này, hắn bận rộn đến mức chân không chạm đất. Sau buổi bãi triều là lễ bái Lầu Nhiên Chúc, cung yến, nhận lời chúc tụng, lên lầu cao, cùng hoàng đế du ngoạn sông Biện, hành lễ tế tự xong xuôi thì người đi đường trên phố cũng đã vơi đi một nửa.
Hằng năm Lạc Vi luôn đợi hắn cùng đi thả đèn hoa đăng. Tống Linh vội vã thay y bào, từ trước Minh Quang môn bái biệt phụ thân, rồi men theo đại lộ Chu Tước lẻn trở lại phố xá.
Thế nhưng Lạc Vi không đợi hắn dưới gốc cây như ước định khi trước. Tống Linh nhìn chiếc đèn kéo quân treo trên ngọn cây, hơi ngạc nhiên hỏi thuộc hạ: "Phùng Ưng, muội ấy đi đâu rồi?"
Người tiến lại gần đáp lời lại là một thị vệ khác: "Điện hạ quên rồi sao, Lộc đại nhân hôm nay xin nghỉ."
Khựng lại một chút, người đó nói tiếp: "Tô nương tử đang ở trong Phong Lạc Lâu."
Tống Linh vừa đi tới trước Phong Lạc Lâu thì thấy Lạc Vi cùng một thiếu niên đeo mặt nạ Na hí từ trong lâu bước ra. Thiếu niên nọ vóc người cao lớn hiên ngang, bên hông đeo một thanh trường kiếm.
Dẫu chẳng nhìn rõ mặt, hắn cũng nhận ra được, đây chính là ái tử của Yến tướng quân, tên Yến Lang.
Bởi vì phủ đệ nằm sát vách nhau, Lạc Vi và Yến Lang quen biết còn sớm hơn cả hắn. Nghe Tống Dao Phong nói, những khi Lạc Vi không tiến cung, nàng thường xuyên tìm vị Yến thế tử này vui chơi.
Phải rồi, năm đó hắn tặng nàng đoản kiếm, nàng cũng tìm Yến Lang học trước tiên.
Yến Lang một tay nắm lấy ống tay áo Lạc Vi, đang thân mật trò chuyện cùng nàng, đứng gần như thế mà bọn họ thế nhưng chẳng hề trông thấy hắn.
Vốn là một mình Lạc Vi đứng dưới đèn kéo quân chờ đợi đến buồn chán, tình cờ gặp được Yến Lang, bèn nghĩ lễ tế điển vẫn còn sớm, chi bằng cùng y vào lâu Phong Lạc dùng chút điểm tâm.
Yến Lang thấy nàng ủ rũ không vui, bèn không nhịn được mà hỏi: "Muội thấy không vui sao?"
Lạc Vi đáp: "Năm nay muội đã đến tuổi cập kê rồi."
Nàng lớn lên từng ngày, cuối cùng cũng đã muộn màng thấu hiểu được ý nghĩa của cây hải đường mà cha cùng nàng tự tay gieo trồng năm ấy.
Những năm qua, Tống Linh đối đãi với nàng vô cùng chu đáo, nàng chưa từng hối hận về quyết định ban đầu của mình. Chỉ có điều, khi đã đến tuổi cập kê, có lẽ nàng sẽ phải dời đến Đông Cung mà ở, bắt đầu một quãng đời dài đằng đẵng phía sau những bức tường gạch đỏ.
Được gả cho hắn, nàng tự nhiên là thấy vui mừng. Năm đó từ Hứa Châu trở về, nàng lại càng thấu hiểu sâu sắc hơn hai chữ "giang sơn" mà cha thường hay nhắc tới rốt cuộc mang ý nghĩa gì. Cùng hắn trị vì đất nước này, khiến cho tất thảy mọi người đều được vui vẻ, đó là một việc đầy ý nghĩa biết bao.
Nửa đêm Lạc Vi trằn trọc không ngủ được, vừa thấy hân hoan, lại vừa không cầm lòng được mà nhớ về ngày xuân xa xăm ấy.
Miếng ngọc quyết cứ vỡ tan trong giấc mơ của nàng hết lần này đến lần khác, nhưng nàng nhớ rõ mồn một rằng năm đó khi hoàng hậu băng thệ, miếng ngọc quyết ấy đã được tùy táng theo người vào lăng tẩm.
Cuộc biệt ly thảm khốc và vội vã đến mức khi đã trưởng thành, nàng thậm chí còn chẳng có cơ hội để mở lời hỏi xem liệu hoàng hậu có từng hối hận hay chăng.
Yến Lang chẳng thể hiểu nổi những tâm tư quanh co lắt léo ấy trong lòng nàng, hắn chỉ có hứng thú với quân thư. Trong số tất cả những người bạn của Lạc Vi, hắn là kẻ sống vui vẻ nhất, ngay cả những người tưởng chừng như lạc quan như Tuyết Sơ hay Bách Lệnh Thành thì trong lòng cũng chôn giấu không ít chuyện thầm kín khó nói.
Chuyện trò với một kẻ chẳng mảy may tâm sự như thế khiến Lạc Vi cảm thấy nhẹ nhõm và an toàn.
Giá như tửu lượng của hắn đừng kém đến thế thì tốt biết mấy.
Yến Lang sau khi uống rượu vào là bắt đầu vừa khóc vừa cười, đến sau cùng Lạc Vi cũng chẳng rõ hắn đang lảm nhảm điều gì, đành phải úp một chiếc mặt nạ Na hí lên mặt hắn cho rảnh nợ.
Vừa đi đến cửa lâu, còn đang dặn dò thị vệ trong phủ phải đưa hắn về nhà cho tử tế, Lạc Vi bỗng nhiên ngửi thấy mùi hương đàn hương quen thuộc.
Nàng quay đầu nhìn lại, Tống Linh đã đứng bên cạnh nàng từ lúc nào.
Hắn vươn tay nắm chặt lấy cổ tay Lạc Vi, chẳng nói chẳng rằng mà quay đầu bước đi. Lạc Vi còn chưa kịp hoàn hồn đã bị hắn kéo về phía bờ sông Biện, chỉ kịp ngoái đầu hét lên một câu: "Mau đưa huynh ấy về đi!"
Sắc mặt Tống Linh có phần khó coi. Hắn mua hoa đăng, cùng nàng thả xuống dòng nước nhưng dáng vẻ như đang muốn nói điều gì đó. Lạc Vi len lén quan sát nét mặt hắn, không nhịn được mà hỏi: "Huynh làm sao thế?"
Tống Linh trầm giọng đáp: "Hôm nay muội không đợi ta."
Lạc Vi vội nói: "Là do muội quên mất giờ giấc, ngày mai muội mang bánh trôi hoa quế đến tạ lỗi với huynh có được không?"
"Không sao, không cần tạ lỗi đâu," Tống Linh vội vàng ngắt lời. Hắn nhìn theo những ngọn đèn hoa đăng đang trôi xa dần, ngập ngừng hồi lâu mới nói: "Vi Vi, thực ra ta muốn nói là..."
Lời đã đến đầu môi, vậy mà chẳng cách nào thốt ra được.
Kể từ khi nàng nói câu "không muốn làm hoàng hậu" năm ấy, suốt những năm qua, đã không ít lần hắn muốn hỏi rõ tâm ý nàng, nhưng trong lòng luôn dâng lên một nỗi khiếp nhược vô hình.
Nói ra thật nực cười, từ nhỏ hắn đã là người có chủ kiến, đối xử với mọi việc thậm chí có phần cố chấp đến cực đoan, duy chỉ có câu nói kia là hắn không dám hỏi đến cùng. Nếu không hỏi, cứ giữ như hiện tại cũng tốt. Hắn vốn chẳng thích làm những việc bản thân không nắm chắc phần thắng, và đối với tình cảm cũng không ngoại lệ.
Lại một mùa Thượng Nguyên nữa trôi qua, hắn vẫn chẳng thể mở lời.
Cũng trong năm ấy, Tô Chu Độ bệnh mất.
Hoàng đế đích thân đưa Thái tử đến Tô phủ. Trong lúc Tô Thời Dự đang tất bật lo liệu tang lễ, Lạc Vi ngồi bên bậu cửa sổ, ngay trước cây hải đường năm nào. Tống Linh siết chặt trong tay miếng ngọc bội hình hoa hải đường tự mình tự tay chạm khắc, do dự mãi rồi mới đưa ra trước mặt nàng.
Dẫu không hề thích cảm giác bất định này, nhưng nếu trái tim nàng thực sự đã trao cho người khác, hắn cũng không muốn dùng hôn ước của hoàng thất để trói buộc nàng bên cạnh mình.
Nàng nên là một cánh chim tự do và phóng khoáng, giống như đôi nhạn trên Yến Sơn được vạt áo rộng dẫn lối kia, chỉ đi và đến theo ý nguyện của riêng mình.
Lùi lại một bước để làm huynh trưởng, làm bạn bè, cũng chẳng sao cả.
Lạc Vi ngẩn ngơ nhìn miếng ngọc bội hoa hải đường, tựa như đang nhìn thấy miếng ngọc quyết trước cửa sổ của hoàng hậu năm xưa.
Rồi nàng nương theo bàn tay thon dài ấy mà ngẩng đầu lên, nhìn rõ gương mặt của Tống Linh.
Hắn có lẽ sẽ mãi mãi không biết được nàng đang nghĩ gì trong khoảnh khắc này, cũng không biết được rằng để đưa ra quyết định này, nàng đã phải đánh đổi điều gì.
Nhân duyên đối với nữ tử vốn dĩ là một canh bạc dùng cả đời để đặt cược, nhưng vì người đó là hắn, nàng nguyện lòng quên đi những câu chuyện về "lan nhân húc quả".
Lạc Vi vừa định đưa tay ra thì nhận thấy bàn tay đang cầm ngọc bội kia dường như hơi run rẩy.
Hóa ra hắn cũng bất an đến thế sao?
Có lẽ vì thấy nàng im lặng hồi lâu không đáp lại, Tống Linh cúi đầu nói tiếp: "... Nếu trong lòng muội đã có người khác, cứ thẳng thắn nói với ta là được."
Nàng vốn dĩ vì lo sợ không thể cầu được một kết cục vẹn tròn cho đoạn tình cảm này mà đau khổ sầu muộn suốt bấy lâu nay, nào ngờ Tống Linh cứ ngập ngừng mãi, hóa ra lại là vì hoàn toàn chẳng hiểu thấu tâm ý của nàng.
Lạc Vi có chút tức giận, nàng nhảy xuống từ bậu cửa sổ, một tay chộp lấy miếng ngọc bội, tay kia túm lấy cổ áo Tống Linh, kéo hắn cúi thấp người xuống.
Nàng kiễng chân lên, nhẹ nhàng đặt một nụ hôn lên môi hắn.
Cảm giác còn mềm mại hơn cả những gì nàng tưởng tượng.
Đó là nụ hôn đầu tiên của hai người.
Nghĩ đến người cha sắp sửa lìa xa nhân thế, lại thêm nỗi bực bội trước sự trì độn của kẻ trước mặt, sống mũi Lạc Vi cay xè, nàng không kìm được mà bật khóc. Nàng ôm chặt lấy cổ hắn, hậm hực nói: "Tống Linh Diệp, huynh đúng là đồ ngốc!"
___
Năm thứ hai, Tống Linh thống lĩnh quân đội từ phương Nam trở về, Lạc Vi vì muốn gặp hắn nên đã đi trước một bước tới Hứa Châu.
Hai người hội ngộ tại Hứa Châu, cuối cùng cũng có thời gian rảnh rỗi để cùng nhau lên núi bái chùa Cư Hóa.
Phương Hạc Tri lúc này đang ở Biện Đô, đình Phóng Hạc vẫn còn đó, chỉ có điều Lạc Vi đã thử rất lâu mà vẫn chẳng thể gọi được đôi tuyết nhạn hiện thân. Đến khi hai người ôm đàn rời đi, mới nghe thấy từ phía chân trời xa xăm ẩn hiện tiếng nhạn hót, lúc gần lúc xa.
Mãi về sau Lạc Vi mới biết, đôi nhạn kia vốn đã cùng nhau quy tiên từ trước đó rồi, tiếng nhạn hót nghe thấy ngày hôm ấy dường như chỉ là ảo giác do gió thổi qua thung lũng tạo thành mà thôi.
Mái vàng của chùa Cư Hóa còn lộng lẫy hơn cả những gì họ hằng tưởng tượng. Hai người quỳ trước cửa Phật, lại trịnh trọng hướng về phía đối phương mà nguyện ước.
Lạc Vi nói: "Muội nguyện vì huynh mà hy sinh tất thảy mọi thứ của mình." Tống Linh vội che miệng nàng lại, bảo rằng lời ấy không lành, nhưng rồi chính hắn lại cất lời: "Nguyện cho chúng ta mãi mãi không có sự hy sinh, bách niên giai lão. Nếu thực sự phải có người hy sinh, vậy thì hãy để ta chết trước muội đi."
"Bậy bậy bậy, huynh nói cái đó mới là không may mắn đấy!"
Lúc xuống núi Lạc Vi đã thấm mệt, thế là Tống Linh cõng nàng trên lưng, ngược hướng hoàng hôn mà lững thững bước đi.
Lạc Vi kề sát bên tai hắn, thầm thì hỏi: "Lúc huynh tặng miếng ngọc bội kia, rốt cuộc vì sao lại sợ hãi đến thế? Chúng ta đã quen biết bao lâu rồi, lẽ nào huynh lại không biết..."
Tống Linh bèn nhắc cho nàng nhớ: "Hồi muội còn nhỏ, ta cõng muội 'bay' trên tường thành, bay mệt rồi, muội đột nhiên nói với ta rằng muội không muốn làm hoàng hậu. Ta còn đang định hỏi muội, vì sao muội lại không muốn làm hoàng hậu? Từ đó về sau ta cứ ngỡ muội thích..."
"Hèn chi huynh lại hay giận dỗi đến thế!" Lạc Vi hiểu ra mọi chuyện, chẳng nhịn được mà nổi cơn tam bành, "... Nhưng mà huynh cũng dễ dỗ dành lắm, có giận cũng chẳng sao. Ế, hóa ra bấy lâu nay huynh cứ trăn trở chuyện đó ư? Thật ra chuyện đó chẳng liên quan gì đến huynh cả, là do muội lo bò trắng răng mà thôi."
Nàng kể cho hắn nghe những lời mình đã nghe lỏm được khi nấp dưới khung cửa sổ năm ấy, rồi hỏi hắn: "Sau khi cưới muội rồi, huynh còn cưới thêm người khác nữa không?"
Tống Linh khẳng định chắc nịch: "Dĩ nhiên là không!"
"Nhưng huynh sắp làm hoàng đế mà," Lạc Vi không tin, "Sử sách viết đầy rẫy những tiền lệ đó thôi. Chờ đến khi huynh làm hoàng đế rồi, chắc chắn sẽ quên sạch lời nói ngày hôm nay. Huynh sẽ bị đủ mọi thứ chuyện cuốn đi, giống như bệ hạ và nương nương vậy. Họ cũng từng yêu nhau, nhưng muội không muốn một kiểu yêu nhau như thế."
Nàng ghé sát tai hắn, thấp giọng đe dọa: "Nếu huynh quên lời, quay lưng cưới người khác, muội sẽ..."
Tống Linh không khỏi căng thẳng, cảnh báo: "Chuyện đó sẽ không xảy ra đâu. Vừa rồi mới nói điềm gở xong, đừng có đem sinh tử của mình ra mà..."
"Huynh nghĩ gì thế, huynh tưởng muội sẽ tự làm hại chính mình chắc?" Lạc Vi cười híp mí nói, "Huynh mơ đẹp quá nhỉ. Muội định nói là, nếu có chuyện đó thật, muội sẽ đi xúi giục vị phi tử mới cưới của huynh, để cô ta cùng muội cướp sạch mọi thứ của huynh. Những thứ nắm trong tay mình mới là thật, việc gì phải đi cầu xin sự ban ơn từ huynh?"
"Được thôi," Tống Linh bật cười, "Vậy ta phải làm sao đây? Muội sẽ giết ta chứ? Nếu không giết, liệu có thể cho ta một gian cung điện nhỏ, thỉnh thoảng ghé qua thăm ta một chút không?"
Lạc Vi hừng hực khí thế tưởng tượng: "Cái đó còn tùy tâm trạng của muội... Mà không đúng, đến lúc đó ai mà thèm quản huynh sống chết thế nào, muội mới không thèm vì kẻ phụ bạc mà đau lòng đâu."
Cười đùa đã đời, Tống Linh bỗng thu lại vẻ mặt cợt nhả, nghiêm nghị nói: "Ta muốn làm hoàng đế, chẳng qua cũng chỉ vì tâm nguyện năm xưa, là để cho thiên hạ ai nấy đều được vui vẻ mà thôi. Muội bằng lòng làm hoàng hậu, ngoài việc tin tưởng ta ra, không phải cũng vì tâm nguyện ấy sao?"
"Nguyện vọng rồi sẽ có ngày thực hiện được. Chờ đến khi mỗi người dưới gầm trời này đều được sống vui tươi, chúng ta sẽ lén trốn khỏi cung, đến Hứa Châu này nuôi tuyết nhạn. Khi ấy, chúng ta sẽ mở thư viện, dựng nhà cửa, nuôi nhạn, rồi nuôi thêm mấy con thỏ nữa. Không còn ai thúc ép, cũng chẳng còn trăm mối tơ vò, lấy đâu ra tâm trí mà quan tâm đến kẻ khác nữa chứ."
Lạc Vi bị ý nghĩ của hắn làm cho giật mình: "Thật sự có thể trốn ra ngoài được sao?"
Tống Linh thề thốt chắc nịch: "Dĩ nhiên là được."
"Vậy thì tốt quá, muội còn muốn nuôi thêm một chú mèo nhỏ nữa... Hoàng hôn hôm nay đẹp thật đấy, còn đẹp hơn cả lần chúng ta nhìn từ tường thành năm ấy. Đợi sau này trốn ra được rồi, mỗi ngày, chúng ta đều sẽ cùng nhau ngắm hoàng hôn."
"Được, mỗi ngày."
Trên con đường núi buổi chạng vạng, tiếng người dần dần tan biến. Nơi chân trời xa xăm, mặt trời đã khuất bóng, tia nắng cuối ngày vẫn còn vương lại, thấp thoáng tiếng nhạn hót quyến luyến không rời.
── ⋆⋅☆⋅⋆ ──
Chú thích:
[1] Trích từ bài "Phóng Hạc Đình Ký" của Tô Thức.
🐣: Sau trận lụt lớn tại Bành Thành, ẩn sĩ Trương quân dựng một ngôi đình bên sườn Đông Sơn để thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ và đặt tên là Phóng Hạc Đình theo thói quen thả hạc mỗi sáng, đón hạc mỗi chiều. Trong một lần ghé thăm, Tô Thức đã cùng chủ nhân căn đình đàm đạo về triết lý ẩn dật, cho rằng những thú vui như nuôi hạc hay uống rượu tuy có thể khiến bậc quân chủ làm mất nước, nhưng lại là phương thuốc giúp kẻ sĩ lâm tuyền bảo tồn thiên tính, siêu nhiên ngoài bụi trần. Bài ký nhấn mạnh sự khác biệt giữa cái vui của người nắm giữ quyền lực và kẻ chọn lối sống tự tại, thoát tục. Tác phẩm khép lại bằng khúc ca chiêu hạc với lời nhắn nhủ đầy ý vị rằng núi Tây tuy tự do nhưng chẳng thể nán lại lâu, hãy sớm trở về với chốn họ nên thuộc về.
Hứa Châu tuy đẹp, núi Tây dẫu thơ mộng, nhưng giấc mộng thanh bình này đã đến lúc phải tỉnh. Họ buộc phải trở về kinh thành, nơi những cơn sóng ngầm của quyền lực đang đợi chờ.

