Lưu Giang gặp Khương Đạo vào một buổi chiều chạng vạng. Lúc ấy nàng vác giỏ trúc trên lưng, lê từng bước chân nặng nhọc qua lớp tuyết ngập đến đầu gối để về nhà sau khi lên núi. Khi đi ngang qua khu miếu hoang đầu làng, nàng chợt khựng lại.
Dưới mái hiên miếu rách nát, gió rít gào từng cơn như muốn cứa rách da thịt, có một thiếu niên có vẻ trạc tuổi nàng đang cuộn mình trong bộ áo bông mỏng tang, rách bươm, vá víu chằng chịt. Hắn gầy gò, ốm yếu, khuôn mặt tái mét vì rét, đôi môi tím ngắt run lập cập. Thế nhưng, điều khiến Lưu Giang chú ý không phải là sự bần hàn thảm hại của hắn, mà là hành động của hắn lúc bấy giờ.
Trong đôi bàn tay đông cứng, nứt nẻ sưng vù như củ cải, hắn đang nâng niu một cuốn sách đã ố vàng, long gáy. Ánh sáng lờ mờ của buổi chiều tà hắt lên những trang giấy mỏng tang. Hắn vừa đọc, vừa dùng một cành cây khô run rẩy vạch từng nét chữ xuống nền tuyết trắng để luyện tự. Không có giấy, không có bút, không có nghiên mực. Hắn dùng tuyết làm giấy, dùng cành cây làm quản bút.
Bụng hắn sôi lên ùng ục, âm thanh lớn đến mức đứng cách mười bước chân Lưu Giang cũng nghe thấy. Nhưng ánh mắt hắn vẫn gắt gao dính chặt vào những dòng kinh sử, sáng rực lên một ngọn lửa ngoan cường, bướng bỉnh.
Lưu Giang đứng lặng người. Nàng nhìn thấy trong dáng vẻ cố chấp ấy hình ảnh của phụ thân lúc sinh thời. Phụ thân nàng cũng từng là một kẻ si ngốc vì y thuật, từng chong đèn suốt đêm đông giá rét chỉ để nghiên cứu một phương thuốc cứu người.
Một cỗ chua xót cuộn lên trong lòng ngực. Lưu Giang không kìm được bước tới. Tiếng bước chân đạp trên tuyết khiến thiếu niên giật mình ngẩng lên. Hắn vội vàng giấu cuốn sách vào trong ngực áo như sợ người ta cướp mất, ánh mắt đề phòng nhìn nàng.
“Ngươi tên là gì?” Lưu Giang cất giọng, âm thanh khàn khàn vì gió lạnh.
“Ta… ta tên Khương Đạo.” Thiếu niên lắp bắp, cố đứng thẳng người lên nhưng đôi chân tê cóng khiến hắn lảo đảo.
“Sao không về nhà mà lại ở đây luyện chữ?”
Trong mắt Khương Đạo thoáng qua một tia xót xa cùng cực. Hắn cúi đầu, giọng nói run rẩy.
“Phụ thân, mẫu thân ta đều đã mất vì dịch bệnh năm ngoái. Căn nhà duy nhất cũng bị thúc bá siết nợ để trừ tiền quan tài. Ta… ta không có nhà. Nơi này gió lùa một chút, nhưng buổi tối có ánh trăng hắt vào tảng đá kia, rất sáng, có thể đọc sách được.”
Trái tim Lưu Giang như bị ai đó bóp nghẹt. Nàng nhìn đôi bàn tay rướm máu vì lạnh của hắn, rồi tháo chiếc áo khoác tơi bằng lá cọ duy nhất của mình, ném về phía hắn.
“Khoác vào. Cầm lấy giỏ củi này, theo ta vào trong làng tạm lánh gió rét rồi lại tính tiếp.”
Khương Đạo ngẩn người. Hắn ôm chặt chiếc áo tơi vẫn còn vương hơi ấm của nàng, hốc mắt bất chợt đỏ hoe. Kể từ khi cha mẹ qua đời, hắn bị họ hàng hắt hủi, làng xóm khinh thường đã nghèo mà còn bày đặt đọc sách. Đây là lần đầu tiên, có một người sẵn sàng che chở cho hắn giữa cơn bão tuyết này.
Đêm đó, trong túp lều tranh của Lưu Giang có thêm một người. Nàng nấu một nồi cháo gạo nóng hổi, cắt thêm vài lát gừng non. Khương Đạo bưng bát cháo, tay run lên bần bật. Hắn không ăn ngay, mà đặt bát xuống bàn, lùi lại hai bước, quỳ gập người xuống đất vái lạy Lưu Giang ba cái thật sâu.
“Ân cứu mạng của cô nương, Khương Đạo đời này kiếp này khắc cốt ghi tâm. Tuy Khương Đạo nghèo hèn, nhưng hứa với trời đất, nhất định sẽ dùi mài kinh sử, thi đỗ công danh. Sau này dù có làm trâu làm ngựa, cũng phải báo đáp ân đức của cô nương!”
Giọng nói của thiếu niên mười bảy tuổi lúc ấy trong trẻo, chân thành và rực rỡ vô ngần. Lưu Giang nhìn giọt nước mắt nóng hổi của hắn rơi xuống nền đất nện, dường như lớp băng giá trong lòng nàng cũng bắt đầu nứt ra một khe hở. Người ham học, xứng đáng có cuộc đời tốt hơn.
Nàng chỉ bình thản đáp.
“Chỉ mong sau này ngươi đỗ đạt, làm một vị quan tốt thương dân. Đứng lên ăn cháo đi, kẻo nguội.”
Từ đó, Khương Đạo ở lại chái nhà nhỏ bên cạnh nhà chính của Lưu Giang. Cuộc sống của hai con người cô độc nương tựa vào nhau mà trôi qua. Sự chân thành và hiếu học của Khương Đạo là thật. Bàn tay cầm bút của hắn viết ra những nét chữ như rồng bay phượng múa, ẩn chứa một cỗ khí phách bất phàm.
Lưu Giang thấy hắn có tài, càng dốc lòng vun vén. Nàng làm việc quần quật gấp đôi trước kia. Mỗi khi sương muối buông xuống, bất chấp cái lạnh cắt da cắt thịt, nàng mạo hiểm leo lên những vách đá cheo leo nhất để hái cho được những búp Tuyết Trà non mọng. Nàng thức trắng vô số đêm, hai bàn tay bị chảo gang nóng rực nung đến mức bong tróc từng mảng da, chỉ để sao ra những mẻ trà thượng hạng nhất.
Trà bán được tiền, nàng không mua thêm áo ấm cho mình. Nàng gói ghém tất cả, mang xuống thị trấn mua loại giấy Tuyên Thành tốt nhất, mua thỏi mực Huy Châu thơm ngát và những cây bút lông tốt để Khương Đạo luyện chữ.
Có những đêm đông, tuyết rơi lấp kín cửa sổ. Lưu Giang ngồi bên bếp lửa vá lại tấm áo đã sờn rách, thỉnh thoảng ngước lên nhìn bóng lưng gầy gò của Khương Đạo in trên vách nứa. Hắn cặm cụi đọc sách dưới ngọn đèn dầu lay lắt. Hết dầu, hắn lại dùng đóm bắt đom đóm, hoặc gom tuyết trước hiên nhà, mượn ánh sáng phản chiếu từ nền tuyết để đọc tiếp. Sự kiên trì đến mức tự ngược đãi bản thân của hắn khiến Lưu Giang xót xa, nhưng cũng vô cùng kính trọng.
“Ngươi nghỉ tay một chút đi.”
Lưu Giang mang lên một bát canh nấm nóng hổi.
“Mắt sẽ hỏng mất.”
Khương Đạo ngước lên, đôi mắt thâm quầng nhưng sáng ngời. Hắn mỉm cười, nhận lấy bát canh, ngón tay vô tình chạm vào những vết chai sần, bỏng rộp trên bàn tay nàng. Ánh mắt hắn chùng xuống, tràn ngập sự áy náy và xót xa. Hắn nắm lấy tay nàng, giọng nói kiên định, dõng dạc như một lời thề trước thần linh.
“Cô nương, ta biết cô nương vì ta mà chịu quá nhiều cực khổ. Mười đầu ngón tay này vốn dĩ không nên mang những vết thương như vậy. Ta thề với bóng trăng đêm nay, kỳ thi mùa xuân năm tới, ta nhất định sẽ ghi danh bảng vàng. Khi ấy, ta sẽ dùng kiệu tám người khiêng, danh chính ngôn thuận rước nàng qua cửa. Tuyệt đối không để nàng phải chịu gió chịu sương thêm một ngày nào nữa!”
Lưu Giang rút tay về. Nàng không màng vinh hoa phú quý, nhưng sự chân thành, nhiệt huyết của thiếu niên lúc ấy đã thực sự sưởi ấm trái tim cằn cỗi của nàng. Nàng tin hắn. Nàng tin rằng giữa thế gian thối nát này, vẫn còn có thứ gọi là chân tình và người quân tử.
“Có thể làm một vị quan tốt, đừng ức h**p người thấp kém hơn mình là được rồi.”
Thời gian thấm thoát trôi qua. Khương Đạo đã từ một thiếu niên gầy ốm trở thành một nam nhân tuấn lãng, mang đậm khí chất nho nhã của kẻ sĩ. Tài văn chương của hắn vang danh khắp cả một vùng huyện lỵ.
Mùa xuân năm ấy, kỳ thi Hội bắt đầu. Đêm trước ngày Khương Đạo lên đường tới Kinh thành dự thi, Lưu Giang thắp đèn thức trắng đêm. Nàng lấy số bạc vụn, tiền đồng dành dụm được trong những năm qua, cẩn thận khâu giấu vào gấu áo, đai lưng và đế giày của hắn để phòng khi bất trắc. Nàng còn chuẩn bị cho hắn một tay nải lớn gồm lương khô, áo ấm và vài lọ thuốc phòng phong hàn.
Sáng hôm sau, dưới gốc cây tùng đầu thôn, Khương Đạo khoác tay nải, chắp tay cúi lạy Lưu Giang một lạy dài.
“Cô nương ở lại bảo trọng. Đợi tin vui của ta!”
Lưu Giang đứng đó, áo mỏng bay trong gió xuân, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười hiếm hoi.
“Đi đường bình an. Công danh có hay không không quan trọng, quan trọng là giữ vững bản tâm.”
Khương Đạo quay lưng bước đi, bóng dáng hòa vào con đường mòn ngập tràn sương sớm. Hắn mang theo tất cả hy vọng và chút niềm tin cuối cùng vào nhân tính của Lưu Giang lên chốn phồn hoa đô hội. Sáu tháng chờ đợi đằng đẵng. Mùa xuân qua đi, mùa hạ rực lửa kéo đến, rồi mùa thu đổ lá vàng khắp các nương trà. Lưu Giang vẫn ngày ngày sao trà. Cuối cùng, vào một buổi chiều cuối thu, tiếng pháo nổ vang rền từ đầu làng phá vỡ sự tĩnh mịch của Vân Túc. Một tên nha dịch mặc áo đỏ cưỡi ngựa mang theo bằng báo tiệp lao vào thôn, lớn tiếng gào lên:
“Chúc mừng! Chúc mừng Trình lão gia nhà các người! Khương Đạo công tử đã đỗ Thám Hoa lang, được bổ nhiệm làm Lục phẩm chủ sự ở Bộ Lễ! Làng Vân Túc các người có hỷ rồi!”
Cả làng xôn xao, náo động. Những kẻ ngày xưa khinh thường, mắng chửi Khương Đạo là đồ ăn mày, nay tranh nhau mang quà cáp đến chúc mừng. Bọn họ vây quanh nhà Lưu Giang, nịnh nọt:
“Ây da, Thẩm cô nương đúng là con mắt tinh đời! Nuôi dưỡng được một vị Thám Hoa lang. Phen này Thẩm cô nương chắc chắn được làm phu nhân nhà quan, một bước lên mây rồi!”
Lưu Giang không quan tâm đến những lời xì xầm đó. Nàng nghe xong rồi thì đóng cửa lại. Đêm đó, nàng không sao trà. Nàng nấu một nồi cháo củ cải, múc ra hai bát, đặt một bát vào chỗ ngồi quen thuộc của Khương Đạo. Khóe mắt nàng rưng rưng. Cuối cùng, công sức nàng bỏ ra đã không uổng phí. Thiếu niên nghèo khổ ngày nào đã đạt được ý nguyện.
Nhưng từ mùa thu sang mùa đông. Tuyết bắt đầu rơi, lạnh buốt. Bếp lò sao trà lại rực lửa, mười đầu ngón tay Lưu Giang lại nứt nẻ, nhưng cỗ kiệu của vị tân khoa Thám Hoa lang vẫn bặt vô âm tín.
……….
Ngày mùng tám tháng Chạp, trời rét đậm. Một cỗ xe ngựa sang trọng không thuộc về nơi sơn cước lộc cộc tiến vào sân nhà Lưu Giang. Bước xuống xe không phải là Khương Đạo. Đó là một tên quản gia ăn mặc gấm vóc, thái độ vô cùng ngạo mạn. Hắn ném cái nhìn khinh thường đánh giá túp lều tranh lụp xụp rồi hất hàm hỏi:
“Ngươi là Lưu Giang à?”
“Là ta.” Lưu Giang đáp, tay vẫn cầm chiếc nia sàng lá trà.
Tên quản gia phất tay, một gã sai vặt bưng ra một chiếc khay phủ lụa đỏ. Hắn lật lớp lụa lên. Ánh sáng vàng chóe của một nén vàng ròng năm mươi lượng chiếu thẳng vào mắt Lưu Giang, cùng với đó là một bức thư phong kín bằng sáp nến được làm từ loại giấy hoa tiên đắt tiền.
“Đây là lễ vật và thư của Khương đại nhân nhà chúng ta gửi cho cô. Khương đại nhân nhờ cô trông nom việc hương hỏa cho phụ mẫu ngài ấy ở quê, số vàng này đủ cho cô sống sung túc không cần hái trà nữa rồi. Nhận lấy đi.”
Lưu Giang khẽ cau mày, một cỗ dự cảm chẳng lành lạnh lẽo bò dọc sống lưng. Nàng rửa sạch tay, từ tốn nhận lấy bức thư. Nét chữ trên bìa thư quen thuộc đến nao lòng, nét chữ rồng bay phượng múa mà nàng đã đổi bằng mồ hôi công sức để mua bút mực cho hắn luyện thành. Nàng xé phong thư. Hương mực Huy Châu thượng hạng tỏa ra thứ mùi xa hoa, gai góc.
Nội dung bức thư rất ngắn, nhưng từng chữ từng câu lại như những lưỡi đao tẩm độc, găm thẳng vào trái tim nàng:
“Lưu Giang cô nương,
Ân tình những năm qua, Khương Đạo ghi lòng tạc dạ, vĩnh viễn không quên. Nay ta đã thi đỗ công danh, đứng chân nơi triều đình sóng gió. Quan trường hiểm ác, muốn bước lên cao, không thể không có gia thế phò trợ.
Lại bộ Thượng thư đại nhân có ý cất nhắc, muốn gả thiên kim tiểu thư làm chính thê của ta. Mệnh lệnh của ân sư, ta không thể trái.
Ta biết cô nương vì ta mà chịu nhiều thiệt thòi. Nhưng thân phận cô nương không rõ rành, lại mang tiếng mồ côi nơi hoang dã, lễ tiết gia quy e rằng khó lòng đảm đương vị trí đương gia chủ mẫu. Hơn nữa, việc ta cưu mang một nữ tử nông thôn làm chính thê sẽ trở thành trò cười cho bá quan văn võ.
Tuy nhiên, Khương Đạo ta tuyệt đối không phải kẻ vong ân phụ nghĩa. Đợi sau khi ta thành thân xong, sẽ sắp xếp một biệt viện yên tĩnh ở phía Nam kinh thành làm chỗ ở cho cô nương khi lên Kinh. Dù là thiếp, ta đảm bảo cô nương sẽ có người hầu hạ, tuyệt đối không bao giờ phải chịu cảnh dầm sương dãi nắng sao trà cực nhọc nữa.
Mong cô nương thấu hiểu cho nỗi khổ tâm của ta.”
Lưu Giang đứng chết trân tại chỗ. Bức thư trên tay khẽ run lên trong gió lạnh. Khắc cốt ghi tâm? Vong ân phụ nghĩa? Nỗi khổ tâm?
Nàng đọc đi đọc lại những dòng chữ ấy, cố tìm kiếm hình bóng của thiếu niên từng quỳ dập đầu trên nền đất lạnh, thề thốt sẽ dùng kiệu tám người khiêng nàng về làm thê tử. Nhưng giờ đây không còn nữa. Giữa những dòng chữ ngụy biện bóng bẩy kia, chỉ còn sự tính toán bẩn thỉu của một kẻ hèn nhát, tham quyền cố vị. Hắn sợ nàng làm hắn mất mặt. Hắn sợ mất đi ô dù từ Lại bộ Thượng thư. Hắn muốn trả công cho nàng bằng một vị trí của tiểu thiếp, à không, nuôi dưỡng bên ngoài không để ai hay biết thì gọi là ngoại thất mới phải. Là một món đồ chơi trong biệt viện, ngoan ngoãn chờ đợi sự sủng ái từ hắn.
“Thế nào?” Tên quản gia hối thúc. “Được Khương đại nhân để mắt đến là phúc tu ba đời của một thôn nữ như cô rồi.”
Lưu Giang ngẩng đầu lên. Không có giọt nước mắt nào rơi xuống. Đôi mắt nàng tĩnh lặng, u ám và lạnh lẽo đến mức khiến tên quản gia phải giật mình lùi lại một bước. Nàng gập tờ thư lại, không nói một lời nào. Một lúc sau mới đáp lại.
“Trở về nói với Khương đại nhân nhà ông, không cần nhọc lòng. Ta ở đây rất tốt, không đi đâu cả. Cứ xem như chưa từng gặp mặt đi.”
Nàng quay lại, bước vào gian bếp. Lò sao trà vẫn đang đỏ lửa. Nàng cầm bức thư hoa tiên quý giá ném thẳng vào đống lửa gỗ tùng. Ngọn lửa bùng lên, l**m trọn lấy những nét chữ bay bướm, thiêu rụi ân tình từng ấy năm, thiêu rụi nỗi khổ tâm, và thiêu rụi luôn cả chút lòng trắc ẩn cuối cùng còn sót lại trong tâm hồn nàng. Ngọn lửa hắt lên khuôn mặt thanh tú của Lưu Giang, soi rõ một nụ cười nhạt nhòa xen lẫn mỉa mai.
Quản gia đảo mắt, khinh thường.
“Làm mình làm mẩy.”
Xe ngựa rời đi, trả lại sự tĩnh lặng cho túp lều tranh. Lưu Giang ngồi phịch xuống chiếc ghế trúc, nhìn đống tro tàn bay lả tả từ cửa lò. Nàng sai rồi, lại một lần nữa tin vào lòng người. Khương Đạo đỗ đạt cao, nhưng xương cốt lại hèn mọn. Triều đình thối nát đã bức tử gia tộc Lưu Giang, nay lại tiếp tục biến một thiếu niên trong sạch thành một gã quan tham ti tiện. Sự kiện này giáng một đòn chí mạng vào tâm lý của nàng, triệt để dập tắt ngọn lửa ấm áp hiếm hoi vừa le lói.
Nửa năm sau, trái tim Lưu Giang đã rèn luyện thành một khối sắt đá, lạnh lùng và đầy tính toán. Nàng không còn là một thôn nữ tốt bụng sẵn sàng chia sẻ nửa củ khoai cho kẻ ăn mày nữa. Nàng từng bước thu mình lại.
……..
Thôn Vân Túc nằm vắt vẻo trên sườn núi Thái Hành, quanh năm mây mù bao phủ, tách biệt hẳn với sự ồn ào của trần thế. Ở nơi này, thứ quý giá nhất không phải vàng bạc châu báu, mà là những búp trà mọc chen chúc giữa những khe đá cằn cỗi, trên lá phủ một lớp lông tơ trắng mịn như tuyết đầu mùa, người dân trong thôn quen gọi là “Tuyết Trà”.
Lưu Giang đẩy nhẹ cánh cửa gỗ đã bạc màu mưa nắng. Khớp cửa vang lên tiếng cọt kẹt khô khốc, xé rách sự tĩnh lặng của buổi bình minh. Hơi lạnh của sương sớm ùa vào phòng, len lỏi qua lớp áo vải thô tồi tàn, khiến nàng khẽ rùng mình. Nàng là một cô nương mồ côi, đến thôn Vân Túc dựng một nếp nhà tranh ở mép rừng từ ba năm trước. Trong mắt dân làng, Thẩm cô nương là một nữ tử trầm mặc, ít giao du, nhưng lại có tay nghề sao trà tuyệt diệu không ai sánh bằng.
Ánh mắt Lưu Giang lướt qua khoảng sân nhỏ lấm tấm sương, dừng lại ở chái nhà bên cạnh, nơi có một nam nhân thân hình cao lớn đang lụi cụi bổ củi.
Đã hơn một tháng kể từ đêm mưa bão ấy, khi nàng vác giỏ trúc vào sâu trong rừng hái nấm và vấp phải thân thể đẫm máu của hắn bên bờ suối. Nam nhân đó mặc y phục dạ hành rách nát, trên lưng trúng ba nhát kiếm sâu hoắm, da thịt cuộn lên mảng lớn, hơi thở mong manh như ngọn nến trước gió. Nàng vốn định mặc kệ, vứt bỏ rắc rối, nhưng ánh trăng đêm đó vô tình soi rõ nửa khối ngọc bội nhuốm máu mà hắn nắm chặt trong tay. Khối ngọc có hoa văn chạm khắc tinh tế. Lưu Giang đã do dự, và cuối cùng nàng kéo hắn về.
Hắn tự xưng là Tề Hành. Khi tỉnh lại sau bảy ngày hôn mê vì sốt cao, ánh mắt sắc bén ban đầu lùi dần, thay vào đó là một màn sương mù mịt. Hắn nói mình là thương nhân đi buôn, gặp cướp núi nên rơi xuống vực, đầu óc mơ hồ, quá khứ chỉ còn là những mảnh vỡ vụn vặt.
“Tề Hành, dừng tay đi, vào ăn cháo.”
Lưu Giang khẽ cất tiếng, thanh âm trong trẻo nhưng lạnh nhạt như nước suối mùa thu.
Nam nhân nghe tiếng gọi, lập tức hạ rìu xuống. Lưỡi rìu cắm phập vào thớ gỗ cứng ngắc một cách dứt khoát, gọn gàng. Hắn quay lại, đưa tay quệt những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, nở một nụ cười hiền lành đến ngốc nghếch. Dưới ánh nắng le lói của buổi sớm, bờ vai rộng và gương mặt góc cạnh của hắn hiện lên rõ nét, mang theo tinh thần rạng rỡ, đối lập hoàn toàn với sự lạnh lẽo của Vân Túc. Hắn nhanh nhẹn bước lại bồn nước góc sân, rửa sạch tay chân rồi mới dám bước vào nhà chính, cẩn thận không để bùn đất dính lên sàn gỗ nhà nàng.
Bữa sáng trên chiếc bàn gỗ mộc vô cùng giản dị gồm hai bát cháo trắng loãng có thể trông thấy đáy, một đĩa rau dưa muối và một đĩa lá trà non xào cùng trứng gà rừng.
Tề Hành lùa miếng cháo vào miệng, híp mắt khen ngợi:
“Thẩm cô nương, tay nghề nấu nướng của cô nương thật sự càng ngày càng tốt. Lá trà này ăn vào đắng chát xông lên tận mũi, nhưng nuốt xuống lại có vị ngọt hậu.”
Lưu Giang gắp một miếng dưa cải, chậm rãi nhai, ánh mắt không để lộ cảm xúc.
“Chỉ là thức ăn dân dã, huynh đài không chê bần hàn là được.”
“Sao có thể chê chứ!”
Tề Hành vội vàng xua tay, sống lưng vô thức thẳng tắp, một thói quen dường như đã ăn sâu vào xương tủy.
“Mạng này của ta là do cô nương nhặt về. Được ăn một miếng cơm nóng, có chỗ che nắng che mưa, Lục mỗ đã cảm tạ trời đất rồi.”
Lưu Giang cụp mi mắt, giấu đi sự sắc bén. Nàng liếc nhìn đôi bàn tay đang cầm đũa của Tề Hành. Dù đã dầm sương dãi nắng hơn một tháng, làm đủ mọi việc nặng nhọc, nhưng phần kẽ giữa ngón cái và ngón trỏ cùng với đốt ngón tay trỏ của hắn có những vết chai sần rất dày, màu sắc sậm hơn hẳn vùng da khác. Đó tuyệt đối không phải là vết chai của một thương nhân hay nông phu, mà là dấu ấn đặc trưng của kẻ mười năm rèn luyện cung tên và đao kiếm.
“Lát nữa ta phải lên sau núi hái đợt trà mới.”
Lưu Giang nhàn nhạt lên tiếng, phá vỡ sự im lặng.
“Sương muối đêm qua đã xuống dày, lúc này búp trà ngậm đủ khí lạnh, là thời điểm thu hoạch tốt nhất. Huynh ở nhà chẻ nốt đống củi, chú ý chặt nhỏ thân cây tùng khô rụng sau nhà, tối nay ta cần dùng lửa từ gỗ tùng để sao trà.”
“Cô nương cứ để ta đi hái trà cho. Đường núi trơn trượt, chân cô nương đi hái thuốc bị trật khớp dạo trước vẫn chưa khỏi hẳn mà.”
Tề Hành cau mày lo lắng.
“Trà Vân Túc kiêu kỳ lắm, tay người lạ chạm vào, nhiệt độ cơ thể không đúng sẽ làm úa lá, mất đi hương vị nguyên bản.”
Nàng kiên quyết từ chối. Tề Hành đành gật đầu, cắm cúi ăn nốt bát cháo. Hắn không hỏi thêm, cũng chẳng phàn nàn. Từ ngày ở lại đây, hắn ngoan ngoãn hóa thân thành một tá điền trung thành, che chở cho mảnh sân nhỏ này.

