Chương 70. Chiến tranh
Thông tin sai lệch đã khiến quân đội của Điền Lạp Tăng mạo hiểm tấn công. Nhờ việc tóm gọn gián điệp, Đỗ Hằng Hi đã giành được tiên cơ, giáng cho đội quân tiên phong của Điền Lạp Tăng một cú đòn phủ đầu đau đớn.
Thế nhưng trận chiến này vẫn chẳng hề dễ dàng. Điền Lạp Tăng là lão tướng dày dạn kinh nghiệm chiến trường, lão nhanh chóng điều chỉnh trạng thái, bày ra thế trận đánh chắc tiến chắc.
Đỗ Hằng Hi không còn đường lui. Nếu không thắng được trận này, hắn sẽ mất tất cả.
Trước đây hắn không cảm thấy quyền lực, quân đội hay đất đai có vai trò gì quá mức không thể thay thế, nhưng sau khi mất đi tất cả, hắn mới phát hiện ra rằng mọi tôn nghiêm và giá trị đều phải dựa vào những thứ này để phô diễn và chống đỡ. Thiếu đi chúng, hắn thực sự sẽ lạc lối, không còn đường đi. Nỗi khổ sở khi không có chút sức lực để phản kháng, hắn tuyệt đối không muốn trải qua lần thứ hai.
Các tướng lĩnh dưới trướng Điền Lạp Tăng coi trọng nghĩa khí hào hiệp, chịu thương chịu khó, xung phong hãm trận đặc biệt dũng mãnh. Nhưng trong số đó cũng không ít người chưa từng học qua chiến thuật hay thuật cầm quân, bởi vậy khi quân số vượt quá một ngàn người, bọn họ thường lúng túng trong chỉ huy.
Đỗ Hằng Hi tập trung đánh vào các trận giao tranh đoàn chiến. Nếu cuộc tấn công trực diện của đôi bên có thực lực tương đương, hắn sẽ phái Tiểu Thạch Đầu dẫn quân đi vòng ra sau lưng địch. Khi các mệnh lệnh chỉ huy không thể truyền đạt kịp thời, quân địch thường nhanh chóng tan rã.
Cuộc chiến kéo dài ròng rã hơn hai tháng trời, cuối cùng Điền Lạp Tăng cũng đầu hàng. Phía Đỗ Hằng Hi thực chất cũng chỉ có thể coi là một chiến thắng thảm hại.
Nhưng dù sao thắng vẫn là thắng, vẫn còn giữ lại được một hơi tàn để tiếp tục cuộc chơi.
Đỗ Hằng Hi mặc quân phục hiên ngang trên lưng ngựa, nhìn những thương binh đang gào khóc thảm thiết trong doanh trại và những thi thể được phủ vải trắng khiêng đi, đột nhiên hiểu ra rằng, da ngựa bọc thây chưa bao giờ là hào hùng, mà là một nỗi bi thương tột cùng.
Quân đội lưu lại tại chỗ, Đỗ Hằng Hi chỉ dẫn theo hai người quay về Tây An báo công.
Khi đến nơi, không khí trong Phủ Tổng đốc lại vô cùng căng thẳng. Sắc mặt Mã Hồi Đức xanh mét, ngay cả khi nhìn thấy báo cáo chiến thắng của Đỗ Hằng Hi cũng không nguôi ngoai được bao nhiêu.
Hóa ra Trung ương đã ban xuống văn thư bổ nhiệm mới, điều Mã Hồi Đức về Bắc Kinh, đồng thời phái Tổng đốc mới là Tôn Chấn Viễn đến đốc lý Thiểm Tây.
Tuy được ban cho chức vụ cao hơn, nhưng một khi đã rời khỏi đại bản doanh Thiểm Tây, vận mệnh sau này sẽ là sinh hay tử thật khó lường. Có lẽ sau khi Điền Lạp Tăng bị đánh bại, An Phác Sơn đã hoàn toàn hoảng loạn, dứt khoát lật lọng, dùng kế rút củi dưới đáy nồi.
Lúc này, đoàn tham mưu của Mã Hồi Đức ngồi vây thành một vòng chỉnh tề trong hoa sảnh, tranh cãi loạn xạ, ai nấy đều đỏ mặt tía tai. Phủ Tổng đốc lại náo nhiệt như một nồi cháo heo.
Có người thậm chí còn đề xuất bí mật giấu ấn tín của Tổng đốc đi, kiên quyết không bàn giao, hoặc liên kết với giới thương nhân, học giả và công nhân tổ chức bãi công, dùng dân chúng để ép Tôn Chấn Viễn lui bước, hay để Mã Hồi Đức cáo bệnh không thể đi xa, cứ trì hoãn vài tháng, chẳng lẽ họ lại cưỡng ép lôi một người bệnh lên đường hay sao?
Mặc dù ý kiến vô cùng đa dạng, nhưng tất cả đều đồng tình với hai quan điểm, một là không thể đối đầu trực diện với chính phủ Bắc Kinh, hai là tuyệt đối không được rời khỏi Thiểm Tây, không được từ bỏ binh quyền.
Khi cuộc bàn luận đang dang dở thì Đỗ Hằng Hi lại lạnh lùng cắt ngang lời mọi người: “Nếu Thủ tướng An đã không còn nể tình, Đại soái hà tất phải kiêng dè nhiều như vậy? Vừa muốn đuổi Tôn Chấn Viễn đi, lại vừa không muốn xé rách mặt, chuyện này chẳng khác nào muốn ăn cá nhưng lại sợ mùi tanh. Giờ phút này đã là lúc vạn bất đắc dĩ, ngay cả khi phải trở mặt, cũng không nên nuối tiếc.”
Đỗ Hằng Hi chống tay vào tay vịn sofa, chậm rãi đứng dậy. Tuy lời lẽ quyết liệt nhưng ánh mắt hắn lại vô cùng sắc bén và bình tĩnh. Hắn từ tốn quét mắt nhìn qua đám đông hiện diện, tạo ra một áp lực trầm mặc: “An Phác Sơn từ khi lên đài đến nay, kiêu ngạo tự mãn, một tay che trời, không ngừng bành trướng thế lực, vơ vét của cải, lộ rõ dã tâm cuồng vọng hiếu chiến, đã sớm chuốc lấy vô số bất mãn.”
“E rằng các vị vẫn chưa biết, thời gian trước, nước Nga vốn đang tác chiến với Đức ở mặt trận phía Đông đột nhiên bùng nổ cách mạng. Chính quyền Xô Viết non trẻ đã đơn phương giảng hòa với Đức và rút khỏi chiến tranh. Điều này không chỉ có nghĩa là Đức đã loại bỏ được mối đe dọa từ phía Đông, mà còn có khả năng nhận được viện trợ và ủng hộ từ phía Xô Viết. Xu hướng của cuộc chiến cũng theo đó mà trở nên khó lường, quyết định tham chiến của chúng ta ban đầu có lẽ là một bước đi sai lầm. Mà sở dĩ tháng trước Thủ tướng An bất chấp tâm lý phản chiến ở khắp nơi, cưỡng ép các tỉnh đồng ý tham chiến, nghe nói là vì ông ta đã ngầm liên minh với Nhật Bản, nhận viện trợ kinh tế và quân sự của họ, xem nhẹ lợi ích quốc gia.”
“Nếu đem chuyện này phanh phui ra, đến lúc quần chúng phẫn nộ, Đại soái khởi binh sẽ danh chính ngôn thuận. Biết đâu còn có thể liên kết với các tỉnh khác đang bất mãn với họ An để cùng làm cách mạng. Trên thực tế, không ít sĩ quan đang bị chèn ép hiện nay đều đang tìm một lối thoát, những người mà tôi biết có Tào An Tuấn ở Chiết Giang, Vương lão soái ở Tuy Viễn, Lục tướng quân ở Tương Bắc.”
Hiện trường không khỏi xôn xao, Mã Hồi Đức nhìn chằm chằm hắn hỏi: “Những tin tức này cậu biết được từ đâu? Cậu có liên lạc với tất cả bọn họ sao?”
Đỗ Hằng Hi nói: “Nếu Đại soái cần, vãn bối bất tài, có thể thay mặt đi thăm dò một chuyến trước.”
Lại có người vô cùng khinh miệt và bất bình nói: “Cậu là thân phận gì, tư cách gì? Mạo muội tìm đến tận cửa, những người đó sẽ thèm để mắt đến cậu sao?”
Mã Hồi Đức lại xua tay ngăn lại, đầy ẩn ý nói: “Cậu ấy là thân phận gì, mặt mũi lớn đến đâu, đến lúc đó tự khắc có định luận.”
Mọi chuyện cứ thế được quyết định.
Đỗ Hằng Hi mang theo tấm lưng đầy rẫy những ánh mắt nghi ngại bước ra khỏi cửa lớn. Đứng dưới trời nắng, ánh dương ấm áp xuyên qua mây mù chiếu thẳng xuống, hắn nhìn định thần về phía trước. Mọi chuyện đến quá nhanh và quá thuận lợi, hắn thậm chí có chút không dám tin.
Hắn có thể mượn thế lực của Mã Hồi Đức để báo thù An Phác Sơn, đánh tới Bắc Kinh, đưa sự thật ra ánh sáng.
Nắm đấm của Đỗ Hằng Hi siết chặt, khẽ run rẩy. Khổ sở chịu đựng bấy lâu, chẳng phải là vì khoảnh khắc này sao?
Quả nhiên phúc hay họa luôn nối đuôi nhau mà đến. Một người nếu đã bắt đầu gặp vận may, mọi thứ đều sẽ mở đường cho hắn, ngay cả ông trời cũng sẽ đứng về phía hắn.
Đỗ Hằng Hi cầm theo ấn tín của Mã Hồi Đức làm bằng chứng, không nghỉ tay lao thẳng đến các tỉnh bắt đầu xoay xở lôi kéo, ngược xuôi Nam Bắc để chèo lái, kết nối các bên.
Trong khi đó, sau một thời gian dài không nhận được phản hồi từ Mã Hồi Đức cũng như không thấy lão bàn giao công việc để khởi hành, Chính phủ Trung ương đã trực tiếp ra lệnh nghiêm khắc yêu cầu Tổng đốc mới được bổ nhiệm phải sớm nhậm chức để tránh nảy sinh biến cố. Để phòng bất trắc, họ còn trang bị cho ông ta một tiểu đoàn hộ vệ.
Mã Hồi Đức áp dụng phương thức tiên lễ hậu binh. Đầu tiên, lão kiên quyết chặn đường Tôn Chấn Viễn, chuẩn bị sẵn phà áp sát bờ Trường Giang, hạn định Tôn Chấn Viễn phải rời khỏi Thiểm Tây ngay trong ngày. Đồng thời, lão phái Sư đoàn trưởng dưới trướng là Hạ Thọ Lương đến đàm phán với Tôn. Tuy gọi là đàm phán nhưng thanh thế cực lớn, gần như sắp tuốt gươm súng đối đầu. Tôn Chấn Viễn đang ở trên địa bàn của người khác, buộc phải tỏ ra yếu thế, ngay đêm đó đã lên tàu rời khỏi Hán Trung.
Tuy rời đi, nhưng Tôn Chấn Viễn cậy có An Phác Sơn chống lưng nên không cam tâm bỏ cuộc, vẫn lưu lại vùng lân cận Vân Dương, quanh quẩn không rời.
Việc Mã Hồi Đức công khai đuổi Tôn Chấn Viễn đi cũng đồng nghĩa với việc công khai đắc tội với An Phác Sơn, chỉ còn thiếu nước tuyên bố độc lập. Không ai biết khi nào Trung ương sẽ phái binh dùng vũ lực thảo phạt.
Đúng lúc này, Đỗ Hằng Hi đã trở về và mang theo không ít ngoại viện. Trong đó không chỉ có sự ủng hộ của hai lão tướng họ Vương, họ Lý ở Tuy Viễn và Nhiệt Hà, mà còn bao gồm cả Thái Thành Bân, thủ lĩnh của Trường Giang Tam Đốc. Thế lực của các bên vừa được phân chia đã hình thành thế gọng kìm vây hãm An Phác Sơn ở Bắc Kinh.
Mã Hồi Đức quét sạch vẻ ủ rũ suốt những ngày qua, tức khắc tinh thần phấn chấn, lập tức đánh điện tín cho các tỉnh trên toàn quốc, liệt kê mười tội trạng lớn của An Phác Sơn, chẳng khác nào một bài hịch thảo phạt họ An.
Nội dung bao gồm việc ông ta cài cắm vây cánh, thực hiện chính trị quân phiệt, tự ý làm trái tinh thần tự quyết của quốc dân, ngăn cản dân trị, cưỡng ép thay đổi Tổng đốc, đồng thời tiết lộ việc Chính phủ Bắc Kinh bí mật vay tiền của Nhật Bản, và để giới báo chí thêu dệt, trực tiếp chỉ trích đó là khoản vay vong quốc.
Cả nước xôn xao, nỗi hận thù của người dân về bản Yêu sách 21 điều một lần nữa bị khơi dậy. Làn sóng kháng nghị nổi lên khắp nơi, gây tổn hại cực lớn đến danh tiếng của nội các họ An cũng như bản thân An Phác Sơn.
Khi Mã Hồi Đức đọc nội dung điện tín, Đỗ Hằng Hi cũng có mặt ở bên cạnh. Hai tháng bôn ba gió bụi khiến cả người hắn trông gầy sọp hẳn đi, ngay cả làn da cũng bị sạm đi một lớp.
Sau chuyến đi ngược xuôi Nam Bắc này, danh tiếng của Đỗ Hằng Hi đã vang xa. Quân phiệt các tỉnh đều biết con trai của Đỗ Hưng Đình không những chưa chết mà còn thay tên đổi họ, đầu quân cho Mã Hồi Đức. Hơn nữa, hắn bản lĩnh đầy mình, dựa vào ba tấc lưỡi không xương đã lôi kéo được không ít thế lực thực thụ.
Trong chuyến hành trình này, Đỗ Hằng Hi đã thoát khỏi không biết bao nhiêu đợt ám sát. Hành tung quỷ quyệt, thoắt ẩn thoắt hiện, dường như thật sự đã trở thành một bóng ma đi đêm về ngày. Ngay cả những chính khách được hắn yết kiến cũng chỉ biết hắn đã đến địa hạt của mình khi hắn xuất hiện tận cửa. Hắn có tinh thần cảnh giác rất cao và cực kỳ kỷ luật, trên đường tuyệt đối không ăn đồ bên ngoài, chỉ ăn thực phẩm mang theo hoặc tự tay nấu nướng, khi ngủ súng cũng không rời tay, thường xuyên thay đổi điểm dừng chân nhiều lần trong một đêm. Điều này khiến An Phác Sơn dù liên tiếp hạ vài lệnh ám sát nhưng vẫn không bắt được dù chỉ là cái bóng của hắn.
Đang lúc hùng hồn tuyên bố, Mã Hồi Đức liếc nhìn Đỗ Hằng Hi rồi ôn tồn nói: “Việc An Phác Sơn ám sát cha cậu là hành vi bội tín nghĩa, tàn nhẫn máu lạnh, thực sự khiến người ta căm phẫn. Cậu yên tâm, ta nhất định sẽ đòi lại công đạo cho cậu.”
Đỗ Hằng Hi đứng dậy, hơi cúi người: “Đa tạ Đại soái.”
Khi Đỗ Hằng Hi rời đi, Mã Hồi Đức quay sang nói với Hạ Thọ Lương còn ở lại: “An Phác Sơn lão già lú lẫn này, ngay cả Đỗ Hưng Đình mà cũng dám giết. Uy vọng và quân công của Đỗ Hưng Đình đã đạt đến mức hiển hách, ông ta không tuân thủ quy tắc thì những người khác tự nhiên sẽ nảy sinh cảm giác thỏ chết cáo buồn, cảm thán nấu đậu đốt cành, lo lắng nếu ông ta nắm quyền lâu dài thì bản thân cũng sẽ rơi vào kết cục tương tự. Trước đây ông ta hắt nước bẩn sang ta, giờ là lúc ông ta phải tự ăn trái đắng rồi.”
Hạ Thọ Lương hỏi: “Đây chính là lý do ban đầu ngài giữ người này lại sao?”
Mã Hồi Đức mỉm cười gật đầu: “Ta giữ Đỗ Hằng Hi lâu như vậy, còn luôn lo sợ cậu ta là một quả bom hẹn giờ, đến nay cuối cùng cũng đã đặt cược đúng, không nhìn lầm người, cậu ta đã phát huy đúng tác dụng nên có.”
Bản tuyên chiến vừa đưa ra, Mã Hồi Đức lập tức lấy Tôn Chấn Viễn đang lưu lại Vân Dương ra làm vật tế cờ, tiêu diệt cả một tiểu đoàn hộ vệ, trực tiếp đuổi thẳng ông ta về Bắc Kinh. An Phác Sơn phái binh chi viện, thế là cuộc nội chiến lần thứ hai chính thức mở màn.
Đợi đến khi ba lộ đại quân đồng loạt khởi binh đánh thẳng về kinh sư, An Phác Sơn mới bắt đầu hoảng loạn. Tác chiến trên cả ba mặt trận cùng lúc khiến ông ta không còn tướng lĩnh nào để điều động, lại còn phải giữ người thủ vệ kinh kỳ, đành phải mời Kim Tự Hồng đang cáo bệnh ra giúp sức.
Chiến sự đang lúc căng thẳng, nhưng quân đội giao cho anh lại toàn là tàn binh già yếu, số có thể dùng được chỉ vỏn vẹn hơn ngàn người.
Kim Tự Hồng cũng không tranh luận, anh mang theo một trung đoàn vốn đi theo mình từ trước, tuyển lựa lại số quân còn lại để thành lập đội ngũ, vội vã huấn luyện trong ba ngày rồi hỏa tốc lên đường ra tiền tuyến.
Phong cách đánh trận của Kim Tự Hồng xưa nay vốn hung hãn tuyệt luân, không chừa đường sống.
Tất cả những đội quân từng giao đấu với anh, bất kể là đầu hàng hay ngoan cố chống trả, cuối cùng đều chịu chung một kết cục là bị thảm sát.
Dưới trướng anh, chưa bao giờ có kẻ nào có thể sống sót trở về.
Trên chiến trường, cái tên của anh thậm chí còn trở nên khủng khiếp hơn cả ác quỷ.
Kẻ hận anh, người sợ anh, tất cả binh lính khi biết mình phải đối đầu với anh đều không khỏi sợ đến mức run rẩy hai chân, mất sạch ý chí chiến đấu.
Vì không thấy hy vọng sống sót, trong những đội quân đụng độ Kim Tự Hồng, kẻ liều chết kháng cự thì ít mà lính đào ngũ lại nhiều vô kể. Sợ hãi cái chết là điểm yếu bản năng, hào kiệt thực sự có thể phá phủ trầm chu để đánh một trận cuối cùng lại chẳng có mấy người.
Kim Tự Hồng nhìn thấu bản tính thấp kém này. Cánh quân của anh là lộ quân duy nhất báo tin thắng trận, đánh đuổi quân phản loạn về tận bộ chỉ huy, đồng thời còn liên tiếp chiếm lĩnh được ba bốn huyện.

