Ta xếp từng cuốn sách vào trong gùi. Dưới đáy gùi có đặt nửa miếng ngọc bội, chất ngọc thô ráp, nét chạm trổ đơn sơ, ở giữa có một vết nứt, chỗ nứt gãy loang lổ không đều.
Đây là vật mẹ để lại cho ta. Bà nói khi ta tròn tháng thì có một đạo sĩ phương xa đi ngang qua tặng cho, nói rằng có thể trừ tà.
Ta chưa bao giờ tin vào chuyện đó. Nếu thật sự trừ được tà thì sao cha mẹ ta lại chết?
Nhưng ta vẫn luôn giữ gìn, bởi đó là di vật cuối cùng mẹ để lại.
Ta nhét miếng ngọc vào trong ngực áo, áp sát vào tim. Miếng ngọc lạnh ngắt làm ta thấy cộm và khó chịu.
Bên ngoài có tiếng gõ cửa.
Mở cửa ra, là vợ của Vương Ma Tử. Bà ấy xách một chiếc giỏ, bên trong có hai cái bánh bao ngô đen sì.
"Hòa nha đầu... nghe nói cháu sắp vào nha môn?" Ánh mắt bà ấy né tránh, "Cái này... để ăn dọc đường."
Ta không nhận.
Tháng trước Vương Ma Tử còn định cướp giếng của ta, bị ta vung cuốc đuổi đi. Việc lão ta gãy chân là thật, nhưng đó là do lão chạy gấp quá nên tự vấp ngã, chẳng liên quan gì đến ta cả.
"Thẩm tử có chuyện gì thì cứ nói thẳng."
Bà ấy xoa xoa tay, mặt đỏ gay: "Chuyện là... cháu vào nha môn rồi, có thể nào... nói giúp với Tuần phủ đại nhân, cấp cho ít lương thực cứu trợ không? Ba đứa nhỏ nhà ta đều sắp chết đói cả rồi..."
Ta nhìn những giọt nước mắt trong mắt bà ấy, một góc nào đó trong tim chợt mềm nhũn.
Nhưng cũng chỉ là thoáng chốc.
"Ta chỉ là một kẻ hầu làm bếp." Ta nói, "Không quản nổi những chuyện này đâu."
Đóng cửa lại, ta nghe thấy tiếng bà ấy khóc nức nở bên ngoài.
Cứ khóc đi. Thời buổi này ai mà không muốn khóc? Lúc ta khóc có ai nghe thấy không?
Ta gói ghém tất cả những món đồ có thể mang theo — hai bộ quần áo vá chồng vá lớp, một đôi giày mòn đế, mười bảy cuốn sách và nửa miếng ngọc bội.
Còn có một cây cuốc nhỏ cha ta từng dùng.
Khi trời sắp tối, ta đi ra sau vườn.
Cái giếng đó được giấu trong đống rơm, miệng giếng đậy bằng ván gỗ. Ta lật tấm ván lên, nước giếng sâu thẳm phản chiếu những vì sao trên trời.
Đây chính là chỗ dựa để ta sống sót tới tận bây giờ.
Ta múc nửa thùng nước lên, tưới lên mảnh vườn nhỏ sau nhà — bên trong trồng rau lê và bạc hà chịu hạn, tuy trông chúng héo rũ nhưng vẫn còn sống.
"Các ngươi phải ráng trụ vững." Ta nói khẽ, "Đợi ta đứng vững chân rồi sẽ quay về đón các ngươi."
Đậy tấm ván lại, ta vào phòng nằm xuống.
Giường gỗ cứng làm đau lưng nhưng ta ngủ say hơn bất cứ đêm nào trước đây.
Bởi vì ngày mai sẽ có cơm ăn.
Nha môn Tuần phủ nằm ở huyện thành cách đây ba mươi dặm.
Ta xuất phát từ khi trời chưa sáng, đi đến lúc nắng rọi quá đầu mới tới nơi. Cửa thành có một hàng dài người xếp hàng, đều là dân bị nạn đợi nhận cháo cứu tế. Ai nấy đều mặt vàng da bọc xương, hốc mắt trũng sâu, trông như vừa bò từ dưới mộ lên.
Thị vệ xem giấy thông hành của ta — là do thôn trưởng thức đêm viết cho, trên đó đề là "người làm thuê họ Lâm", đến cả tên đầy đủ của ta ông ta cũng lười viết vào.
"Người của nha môn Tuần phủ sao?" Thị vệ nhìn ta từ đầu đến chân, ánh mắt kỳ quặc, "Đi vào từ cửa sau."
Cửa sau nằm sâu trong ngõ nhỏ, là một cánh cửa gỗ hẹp. Ta gõ cửa, người ra mở là một người phụ nữ trung niên cao gầy, mắt xếch, môi mỏng, nhìn qua đã biết không phải hạng vừa.
"Ngươi là con bé thôn quê đó hả?" Bà ta hếch mũi lên trời, "Ta là Lưu ma ma quản lý nhà bếp. Vào đi, để ta nói rõ quy tắc cho ngươi biết trước —"
Bà ta nói ròng rã suốt một khắc đồng hồ.
Nào là không được chạy ra tiền viện, không được nói chuyện với đại nhân, không được trộm cắp, không được lười nhác, không được thế này không được thế kia... Cuối cùng tóm lại một câu: "Ở đây mạng ngươi mỏng hơn giấy, nhưng quy tắc thì lớn hơn trời. Phạm phải điều nào, nhẹ thì ăn gậy, nặng thì đưa lên quan. Nghe rõ chưa?"
"Đã rõ."
Bà ta dẫn ta vào hậu viện. Sân rất rộng, lát gạch xanh, dưới hành lang treo lồng chim, bên trong không nuôi chim mà nuôi hai con chim cút — nuôi để lấy trứng, quý giá vô cùng.
Gian bếp nằm ở dãy nhà phía Đông, gồm ba gian phòng lớn. Một lò bếp lớn, ba lò bếp nhỏ, thớt dao đầy đủ không thiếu thứ gì. Còn rộng hơn cả căn nhà của ta.
"Việc của ngươi là nấu cơm cho hạ nhân." Lưu ma ma chỉ vào lò bếp nhỏ nhất trong góc, "Gạo bột ở trong tủ, rau thì ra vườn sau mà hái. Một ngày hai bữa, giờ Thìn một lần, giờ Dậu một lần. Làm không xong, để họ bị đói thì ngươi cứ đợi mà ăn mắng đi."
Bà ta nói xong định đi, lại quay đầu bồi thêm một câu: "Đúng rồi, nghe nói ngươi là do đại nhân đích thân chọn? Chậc, trông cái bộ dạng này... hèn chi."
Lời nói chưa dứt nhưng ý tứ đã rõ ràng.
Ta siết chặt nắm tay, móng tay bấm sâu vào lòng bàn tay.
Không được nổi giận. Tuyệt đối không. Công việc này là cơ hội để ta sống sót.
Lưu ma ma nguẩy mông đi mất. Ta đặt tay nải xuống, trước tiên đi xem hũ gạo — nửa hũ gạo thô lẫn không ít trấu. Trong bao bột là bột đen, chạm vào thấy nhám tay.
Vườn sau lại làm ta kinh ngạc đầy vui sướng. Tuy cũng bị hạn nhưng nước giếng đầy đủ nên vẫn trồng được một luống rau xanh, mấy giàn đậu ván, còn có một bụi bạc hà và vài cây tía tô.
Tất cả đều tươi tốt, xanh mướt một màu.
Ta ngồi xổm xuống, sờ thử lá rau. Dày dặn, có sức sống, đều là rau ngon.
Ta hái một nắm đậu ván, ngắt ít rau xanh, lại hái thêm vài lá bạc hà. Quay lại bếp, vo gạo, rửa rau, nhóm lửa.
Gạo thô khó chín, ta cho thêm nhiều nước, dùng lửa nhỏ ninh chậm.
Đậu ván cắt khúc, dùng một chút mỡ lợn — trong góc tủ có một hũ gốm nhỏ, bên trong là mỡ lợn trắng đông lại, không nhiều nhưng đủ dùng — phi thơm tỏi băm rồi cho đậu vào đảo đều.
Không có nước tương thì dùng muối. Muối cũng quý giá, ta chỉ dám bốc một nhúm nhỏ.
Rau xanh trụng qua nước sôi, trộn với tỏi nhuyễn và một chút dầu. Bạc hà băm nhỏ, rắc lên mặt cháo.
Cơm nước làm xong, vừa vặn đến giờ Dậu.
Gia nhân lần lượt đi vào, khoảng hai ba mươi người, có tạp dịch, phu nuôi ngựa, người làm vườn, còn có vài tỳ nữ làm việc nặng. Thấy thức ăn trên bàn, ai nấy đều nhíu mày.
"Chỉ có thế này thôi ư?"
"Nước trong leo lẻo, cho chim ăn à?"
Một gã đàn ông dáng vẻ phu nuôi ngựa đập bàn quát: "Lưu ma ma! Con nhỏ đầu bếp mới đến này đang lừa ma đấy à!"
Lưu ma ma từ trong nhà bước ra, liếc nhìn mâm cơm, cũng nhíu mày: "Họ Lâm kia, ngươi chỉ làm được thế này thôi sao?"
Ta múc một bát cháo, đặt bên cạnh bếp: "Mọi người cứ nếm thử trước đã. Nếu cảm thấy không được thì ta xin chịu phạt."
Gã phu nuôi ngựa hừ lạnh một tiếng, bưng bát húp một ngụm lớn.
Sau đó, gã khựng lại.
Tất cả mọi người đều nhìn gã.
Gã chậm rãi nuốt ngụm cháo đó xuống, lại gắp một miếng đậu ván bỏ vào miệng nhai. Vẻ mặt chuyển từ giận dữ sang nghi hoặc, rồi đến... kinh ngạc.
"Bát cháo này..." Gã tặc lưỡi, "Sao lại có vị thịt?"
Những người khác bán tín bán nghi, cũng lần lượt cầm đũa.
Trong bếp yên tĩnh trở lại, chỉ còn tiếng nhai và tiếng húp cháo.
Một lúc lâu sau, có người nói nhỏ: "Lạ thật, rõ ràng toàn rau dại mà sao ăn lại... thơm thế này?"
"Món đậu này thật đậm đà, độ mềm vừa tới."
"Rau xanh giòn sần sật, tỏi nhuyễn thật đã miệng!"
"Trong cháo có cho thêm gì không? Sao lại ngọt lịm thế này?"
Ta không nói gì.
Có vị thịt là bởi ta dùng mỡ lợn phi thơm, lại dùng chính cái chảo vừa xào đậu xong để nấu cháo, mỡ và mùi thơm cháy sém đã hòa quyện vào nước gạo. Rau xanh khi trụng có cho thêm chút muối và dầu nên giữ được màu xanh và độ giòn. Bạc hà thì giúp tỉnh táo, khai vị, lại át đi vị chát của gạo thô.
Đó đều là cách nấu ăn của nhà nghèo. Năm mất mùa, một chút dầu chút muối cũng phải tận dụng triệt để.
Sắc mặt Lưu ma ma thay đổi liên tục, cuối cùng hừ một tiếng: "Coi như ngươi qua cửa."
Khi mọi người tản đi, gã phu ngựa lúc nãy đi đến trước mặt ta, gãi gãi đầu: "Chuyện đó... xin lỗi muội tử nhé, lúc nãy ta nói hơi quá lời. Ta tên Triệu Đại, cai quản chuồng ngựa. Sau này có gì cần giúp đỡ thì cứ bảo ta một tiếng."
Ta gật đầu, không nói nhiều.
Dọn dẹp xong nhà bếp thì trời đã tối hẳn. Nơi ta ở nằm tận góc hậu viện, là một căn phòng nhỏ được ngăn ra, trước đây vốn dùng để chứa đồ linh tinh. Dọn dẹp lại thì chỉ vừa đủ đặt một chiếc giường gỗ và một cái bàn nhỏ.
Nhưng vẫn tốt hơn nhà ta. Ít ra là không bị dột.

