Hôn Phu Tuần Phủ Của “Tai Tinh”

Chương 1




Nội dung chương đang bị khóa. Vui lòng mở lại quảng cáo
để tiếp tục ủng hộ dịch giả và đọc Chương 1 miễn phí!

Vào lúc ta đói đến mức có thể nuốt chửng một con bò thì kiệu của Tuần phủ tiến vào làng.

Ba năm đại hạn, lòng sông nứt nẻ trông như làn môi khô khốc của cha ta trước lúc lâm chung.

Người trong làng đều bảo là do ta khắc — khắc chết cha mẹ, khắc cạn nước sông, khắc đến mức hoa màu cả làng đều không sống nổi.

"Sao chổi lại đi lột vỏ cây đấy à?"

"Tránh xa nó ra, đen đủi lắm!"

Ta địu chiếc gùi tre rách, kẽ móng tay nhét đầy bùn đen. Chỗ đất sét trắng đào được hôm qua vẫn còn đè nặng trong dạ dày, mỗi bước đi đều như đang mang theo đá tảng. Nhưng ta không thể dừng lại, dừng lại, không vùng vẫy nữa là sẽ chết.

Dưới gốc hòe già đầu làng, một đám bà già đang cắn hạt dưa vốn chẳng hề tồn tại — lương thực đã hết từ lâu, họ cắn những vỏ đậu khô héo, giả vờ như vẫn đang trong những năm tháng thái bình.

"Nghe nói gì chưa? Quan Tuần phủ mới đến muốn đo đạc lại ruộng đất đấy!"

"Đo cái khỉ gì! Nước cũng chẳng còn, tính toán ruộng đất thì có tích sự gì!"

Tiếng vó ngựa vang lên chính vào lúc đó.

Trong làn bụi mù mịt, ta thấy một toán người ngựa. Người dẫn đầu cưỡi trên lưng ngựa, mặc quan bào màu xanh chàm, hông đeo trường kiếm, gương mặt lạnh lùng như băng trên mặt sông tháng Chạp. Tất cả mọi người đều quỳ xuống, đầu gối đập lên nền đất khô nghe thình thịch.

Ta đứng yên không động đậy.

Không phải không muốn quỳ, mà là đói đến mức chân tay đã tê dại, không nhích nổi.

Con ngựa đó tiến về phía ta, dừng lại cách ta ba bước chân. Hơi nóng từ mũi ngựa phả vào mặt ta, mang theo mùi cỏ tươi — thời buổi này còn có thể cho ngựa ăn cỏ tươi thì phải giàu sang đến mức nào?

"Tại sao không quỳ?"

Giọng nói truyền tới từ trên đỉnh đầu, không cao không thấp, như một lưỡi dao đã mài sắc.

Ta ngẩng đầu, nhìn thấy một đôi mắt. Sâu, quá sâu, giống như miệng giếng cổ đã sớm khô cạn ở làng bọn ta.

"Dân nữ... tê chân."

Xung quanh vang lên tiếng hít hơi lạnh. Có bà già hạ giọng mắng: "Đồ tai tinh đáng chết, mạo phạm đại nhân thì ngươi biết tay!"

Người trên lưng ngựa lại cười, cái kiểu cười nhếch mép mà trong mắt chẳng chút hơi ấm.

"Trong gùi của ngươi có gì?"

Ta cúi đầu nhìn cái gùi — mấy cọng rau lê khô khốc, một nắm mã đề, còn có nửa miếng vỏ cây ta đã gặm suốt hai ngày.

"Rau dại."

"Tầm mùa này mà vẫn còn rau dại sao?"

Chàng xuống ngựa. Ủng quan giẫm lên đất khô, mỗi bước để lại một hố nông. Đi đến trước mặt ta, chàng cao hơn ta hơn một cái đầu. Chàng đưa tay, từ dưới đáy gùi bốc lên một nhúm đất — là đất ẩm.

Tất cả im phăng phắc.

"Đất ẩm từ đâu ra?"

Ta mím chặt môi. Không thể nói, nói ra thì sẽ không giữ được cái giếng đó nữa.

Đó là cái giếng ta đào ròng rã ba tháng mới có nước, là gốc rễ để ta giữ mạng.

"Phía Đông bãi sông." Ta nói dối, "Có một vũng nước."

"Dẫn ta đi xem."

Tim ta đập như trống chầu. Đi đến phía Đông bãi sông phải mất ba dặm đường, ở đó ngoài lòng sông nứt nẻ thì chẳng có gì cả. Một lời nói dối chỉ cần đâm nhẹ là thủng.

Ngay lúc ta định buông xuôi mặc cho số phận thì chàng chợt cúi người, nhặt một cuốn sách rơi ra từ gùi của ta lên.

"Thủy Kinh Dị Chú".

Di vật của cha ta.

Chàng lật xem vài trang, ánh mắt dừng lại ở những dòng phê chú dày đặc.

Viết bằng bút than, tuy chữ vẹo vọ nhưng nét nào ra nét nấy, khá ngay ngắn.

"Ngươi viết sao?"

"... Phải."

"Hiểu được bao nhiêu?"

"Hiểu hết rồi."

Xung quanh vang lên tiếng cười mỉa. Ngay cả thôn trưởng cũng không nhịn được: "Đại nhân đừng nghe nó nói bừa! Con nhỏ này ngay cả tên mình còn viết không xong mà còn đọc sách à?"

Thẩm Tịch — sau này ta mới biết chàng tên Thẩm Tịch — chẳng hề để ý tới thôn trưởng.

Chàng nhìn ta, nhìn rất lâu. Lâu đến mức ta tưởng chàng sắp hạ lệnh bắt giam ta, trị tội lừa dối quan trên.

Sau đó chàng nói:

"Nha môn Tuần phủ đang thiếu một đầu bếp nữ, tiền công mỗi tháng ba lạng, bao ăn ở. Ngươi có đi không?"

Ta ngờ rằng mình đói quá nên sinh ra ảo giác.

Ba lạng? Đó là tiền công hai tháng của một lao động khỏe mạnh. Bao ăn ở? Có nghĩa là không phải ăn đất sét nữa, không phải lo lắng ngày mai liệu có chết đói trong căn nhà nát hay không.

Nhưng ta không đồng ý ngay.

Trước khi chết cha ta từng nói: "Hòa Nhi, trên đời này không có bữa cơm nào miễn phí cả. Miếng bánh từ trên trời rơi xuống càng ngon thì càng phải xem trong nhân có độc hay không."

"Tại sao lại là ta?" Ta hỏi.

Thẩm Tịch trả lại cuốn sách cho ta, trang sách còn vương hơi ấm từ đầu ngón tay chàng.

"Bởi vì trong gùi của ngươi có đất ẩm, trong tay có sách thủy lợi, trong mắt có ánh sáng không cam chịu số phận." Chàng khựng lại một chút, "Mà ta, lại cần những người không cam chịu số phận."

Thôn trưởng cuống cuồng: "Đại nhân! Không được đâu! Con nhỏ này mạng cứng khắc người thân, cha nó mẹ nó đều là..."

"Đều là chết vì vỡ đê." Ta ngắt lời ông ta, giọng nói khô khốc, "Cha ta là quan nhỏ coi sóc sông ngòi, hy sinh khi làm nhiệm vụ. Mẹ ta vì bệnh mà mất, chẳng liên quan gì đến mạng cứng cả."

"Vậy còn đại hạn thì sao? Tại sao ngươi vừa đến là đại hạn ba năm liền?"

"Trước khi ta đến đã hạn hán một năm rồi." Ta chằm chằm nhìn thôn trưởng, "Năm con trai ông chào đời cũng đại hạn, có phải là do con trai ông khắc không?"

Đám đông xôn xao.

Thẩm Tịch lại cười. Lần này trong mắt đã có chút ấm áp.

"Giờ Thìn ngày mai đến nha môn trình diện." Chàng xoay người lên ngựa, đi được vài bước lại quay đầu lại, "Đúng rồi, nhớ mang theo sách. Ta thích vừa ăn cơm vừa nghe người ta kể chuyện."

Tiếng vó ngựa xa dần, bụi trần lắng xuống.

Ta đứng nguyên tại chỗ, tay siết chặt cuốn sách cũ, móng tay bấm sâu vào bìa sách.

Ánh mắt bốn phía như những cây kim, châm chọc khiến khắp người ta đau nhức. Ngưỡng mộ có, đố kỵ có, oán hận cũng có — dựa vào cái gì? Dựa vào cái gì mà một ngôi sao tai họa lại có thể trèo cao lên đến chỗ Tuần phủ đại nhân?

Lưu góa phụ là người lên tiếng đầu tiên, giọng nhọn hoắt như mèo kêu: "Chà, bay lên cành cao biến thành phượng hoàng rồi sao? Tiếc thay, quạ thì vẫn hoàn quạ, có bay cao đến mấy thì vẫn cứ đen sì thôi!"

Con trai bà ta năm ngoái muốn bắt nạt ta, bị ta đá trúng chỗ hiểm, phải nằm liệt giường nửa tháng.

Ta chẳng thèm để ý đến bà ta, địu gùi đi về nhà.

Căn nhà vách đất nằm ở cuối làng, mái nhà dột nát, mảng tường bong tróc. Ta đẩy cửa bước vào, bụi bặm bay múa trong luồng sáng. Chiếc rương gỗ ở góc tường vẫn còn đó, ta mở ra, bên trong là tất cả số sách cha để lại.

"Hà Phòng Thông Nghị", "Tào Hà Đồ Chí", "Thủy Bộ Bị Khảo"... tổng cộng mười bảy cuốn, cuốn nào cũng đã bị lật đến sờn rách.

Ta ngồi bệt xuống đất, v**t v* từng cuốn một.

Cha, cha luôn nói trị thủy cũng như trị người. Cha bảo nước có tính nết của nước, không thể ngăn chặn cứng nhắc mà phải nương theo nó, dẫn dắt nó. Cha nói cha từng thấy dáng vẻ giận dữ của Thanh Hà — sóng lớn ngất trời, phá nhà nát ruộng.

Nhưng cha cũng nói, cha từng thấy dáng vẻ dịu dàng của Thanh Hà — nước xuân như rượu, làm say đắm cả vùng Giang Nam.

"Hòa Nhi, con phải ghi nhớ, nước là gốc rễ để con người sống sót. Mất nước rồi là chẳng còn gì cả."

Ta nhớ khi nói câu này, cha đang vẽ bản đồ sông ngòi dưới ánh đèn. Ánh đèn dầu nhảy nhót trên gương mặt cha, trong mắt cha có ánh sáng, tựa như những vì sao phản chiếu dưới dòng sông.

Trận vỡ đê đó đến thật đột ngột.

Cha canh giữ trên đê suốt ba ngày ba đêm, cuối cùng ôm bao cát nhảy xuống chỗ sạt lở. Họ tìm kiếm ba ngày chỉ vớt được một chiếc giày của cha.

Mẹ ôm chiếc giày đó khóc ròng một đêm, ngày hôm sau thì ngã bệnh. Kéo dài nửa năm rồi cũng đi theo cha.

Để lại con và mười bảy cuốn sách này.

Cùng với những lời "tai tinh" độc địa của người trong làng.


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.