"Haiz, thế đã nhằm nhò gì?" Vương tẩu nói bằng chất giọng thản nhiên, mí mắt cũng chẳng buồn nhấc lên nhìn đám người đáng thương kia lấy một lần. "Trên có thiên tai, dưới có nhân họa; nào đói kém, nào chiến tranh. Có ai dám chắc mình sống được đến ngày mai? Đừng thương hại người khác nữa, ai mà chẳng như nhau."
Nói xong liền chầm chậm đánh xe vòng vào hậu viện trạm dịch, tiện thể gọi người trong quán ra sắp xếp cơm nước và chỗ nghỉ cho mẹ con Bạch Thanh Gia.
Ngồi xe xóc nảy cả ngày, hai người thực sự mệt rã rời, bèn theo tiểu nhị vào trong. Đi ngang quán cháo, Bạch Thanh Gia vô thức ngoảnh đầu nhìn lại, thấy đám người đông đặc chen chúc, hai mắt dán chặt vào chiếc thùng cháo mà trong đó cơ hồ chẳng có nổi mấy hạt gạo. Nước trắng đục lờ lững, lềnh bềnh thứ gì không rõ, còn phảng phất một mùi hôi lạ lùng khiến người ta vừa ngửi đã cồn cào ruột gan.
Trái tim cô như bị kim châm một cái.
Cô vội thu ánh mắt lại. Khi bước qua ngưỡng cửa trạm dịch sáng đèn, giữa bao ánh nhìn dõi theo phía sau, mặt cô bỗng nóng bừng. Một cảm giác kỳ dị bủa vây lấy cô, khiến cô không hiểu sao lại thấy mình không ngẩng đầu nổi.
Cô và mẹ được ăn một bữa cơm nóng.
Giữa nơi hoang dã, cơm nước dĩ nhiên thô sơ — hai món rau, một bát cơm trắng, nhìn cũng không đẹp mắt mà nếm cũng chẳng ngon lành gì. Thế nhưng dẫu sao đó vẫn là một bữa cơm, là thứ mà những người đang xếp hàng trước một thùng nước trắng ngoài kia có mơ cũng không với tới được.
Bạch Thanh Gia nuốt không trôi.
Không phải vì kén chọn, mà bởi cảm giác kia cứ lẩn quất trong lòng, xua không đi được. Cô mơ hồ thấy rằng mình ăn thêm một miếng cơm cũng như mang tội. Rốt cuộc lại đặt đũa xuống. Ngoảnh sang thấy Hạ Mẫn Chi cũng chẳng ăn được bao nhiêu. Mẹ con nhìn nhau, rồi cùng hướng ánh mắt ra phía cửa, mỗi người buông một tiếng thở dài.
Họ gọi chủ quán đến, nhờ đem phần cơm gần như còn nguyên ấy ra phát cho đám lưu dân.
Chủ quán đáp một tiếng, miệng nói "phu nhân và tiểu thư thật có lòng", nhưng ánh mắt nhìn họ lại phảng phất điều gì khó tả. Có lẽ ông ta cũng cảm thấy việc ấy chẳng có ý nghĩa gì chăng? Bao nhiêu người đang há miệng chờ ăn, dăm hạt cơm cùng mấy cọng rau ấy thì có ích gì? Đổ vào thùng nước kia rồi cũng thành nước cặn, được mấy ai no bụng?
... Chẳng qua chỉ là chút thiện tâm tự làm mình cảm động mà thôi.
Giường trong trạm dịch cứng như tấm ván, chăn nệm lại phảng phất mùi mốc. Dẫu vậy, mẹ con họ vẫn ngủ được — có lẽ bởi cả một ngày bôn ba thực sự đã vắt kiệt sức lực.
Song giấc ngủ của Bạch Thanh Gia không yên. Trong cơn mơ màng, cô luôn nghe thấy những âm thanh ồn ã bên tai — khi thì tiếng gõ bát xin ăn, khi lại như tiếng ai khóc than ai oán. Tất cả khiến lòng người bứt rứt. Có mấy lần cô muốn mở mắt mà không sao nhúc nhích nổi, tựa như bị đè nặng nơi ngực. Mãi đến lúc trời tang tảng sáng mới tỉnh hẳn, khi ấy mẹ vẫn còn ngủ bên cạnh.
Cô ngồi bên mép giường, lặng lẽ tỉnh táo lại. Hình ảnh thùng cháo đêm qua lại lướt qua trước mắt. Một lúc sau, cô khẽ thở dài, rốt cuộc quyết định nhượng bộ chính mình.
Thôi vậy.
Cứ cho là cô giả nhân giả nghĩa đi.
Trong túi còn năm mươi đồng đại dương. Trừ số đã hứa sẽ trả Vương tẩu, còn lại bốn mươi. Cô giữ mười đồng, ba mươi còn lại gửi cho chủ quán, nhờ họ mua thêm gạo, chí ít cũng để những người ngoài kia được ăn một bữa ra hồn.
Cô tính toán rõ ràng như thế.
Nhưng khi thò tay vào chiếc va-li mang theo, cô bỗng phát hiện cái túi đựng tiền đã rỗng không.
Cô sững người.
Ngay sau đó bật dậy khỏi giường, mở chiếc va-li lục tung trong ngoài — không còn một xu. Lại quay sang lục túi áo khoác của mình và của mẹ, cũng sạch trơn không còn gì.
Chuyện... chuyện này...
Cô đứng chết lặng tại chỗ. Hạ Mẫn Chi trên giường bị tiếng lục lọi làm cho tỉnh giấc, vừa dụi mắt khoác áo vừa gọi khẽ: "Thanh Gia...?"
Cô không kịp đáp, đầu óc quay cuồng. Đến lúc ấy cô vẫn còn ngờ rằng mình sơ ý làm rơi tiền ở đâu đó. Nghĩ vậy liền vội vàng chạy ra ngoài, định tìm Vương tẩu nhờ dẫn ra xe ngựa kiểm tra. Nhưng khi đến trước phòng người ta thì đã thấy cửa phòng trống trơn. Nhón chân nhìn qua cửa sổ xuống hậu viện, chuồng ngựa cũng chẳng còn một con nào.
Vương tẩu...
Bà ta...
Bạch Thanh Gia nhắm chặt mắt lại. Sự hoảng loạn và hối hận đồng loạt trào dâng. Phải qua hai phút cô mới có sức chạy đi tìm chủ quán, hỏi người phụ nữ đánh xe cùng họ đã đi đâu.
Chủ quán đã lạnh lùng hẳn, khác hẳn vẻ niềm nở tối qua. Chỉ cộc lốc đáp một câu "Không biết". Khi cô hỏi thêm, ông ta liền sa sầm mặt: "Người của các cô đi đâu thì liên quan gì đến chúng tôi? Muốn tìm thì tự đi mà tìm, đừng cản trở chúng tôi làm ăn!"
Đến lúc này, Bạch Thanh Gia vẫn còn như rơi trong sương mù, chưa nhìn ra Vương tẩu và chủ quán vốn là một bọn, mà trạm dịch này từ đầu đến cuối chính là một hắc đ**m.
Cô rốt cuộc vẫn còn quá trẻ.
Dẫu có chút thông minh, cũng không đủ đối phó với quanh co của thế đạo và hiểm ác của lòng người, lại càng không đủ để tự bảo vệ mình.
Cô đã phạm nhiều sai lầm.
Chẳng hạn như hôm qua ở ngoài ga, khi mới gặp chồng Vương tẩu, cô không nên vội vàng móc ra mười đồng đại dương. Trong mắt cô đó là thành ý, nhưng trong mắt kẻ khác lại là lộ của, dễ khơi dậy lòng tham.
Lại chẳng hạn, cô không nên quá dễ dàng tin tưởng Vương tẩu. Một người đàn bà trung niên trông có vẻ chất phác cũng có thể là kẻ trộm gian xảo. Lấy mạo mà đoán người, phần nhiều đều nhận kết cục chẳng lành.
Nhưng giờ đây hối hận cũng vô ích.
Mẹ con cô xách chiếc va-li duy nhất còn lại bước ra khỏi trạm dịch. Trước mắt là cánh đồng hoang mênh mông không bờ bến, biết đi đâu tìm người đàn bà đã cuỗm sạch tiền bạc của họ?
Trước mắt chỉ còn hàng người vẫn xếp dài trước quán cháo như đêm qua, vẫn đói rét, vẫn thê lương.
Khác chăng chỉ là bên đường hôm nay có thêm một xác đàn ông.
Cũng là kẻ áo quần rách nát. Trông như vừa tắt thở chưa lâu, trong tay vẫn cầm một chiếc màn thầu cứng ngắc. Tiểu nhị phát cháo thấy có người chết, trên mặt chẳng hề kinh hoảng, trái lại còn như có chút hưng phấn. Hắn phất tay gọi thêm hai người, lột áo người chết ra, lục soát một hồi lại moi được từ trong ngực hai thỏi vàng óng ánh!
Bọn họ nhìn nhau, gương mặt mang vẻ đắc ý, rồi lập tức mang vàng vào trong trạm dịch, mặc kệ thi thể kia nằm đó.
Đám lưu dân xếp hàng dường như cũng đã quá quen với cảnh ấy, chẳng buồn quan tâm người sống hay chết, chỉ chăm chăm liếc nhìn nửa chiếc màn thầu còn lại trong tay người chết. Chẳng bao lâu đã có mấy kẻ từ trong hàng chạy ra, chia nhau ăn sạch.
Cảnh tượng ấy...
Đừng nói đến Bạch Thanh Gia còn trẻ người non dạ, ngay cả Hạ Mẫn Chi đã sống hơn nửa đời người cũng chưa từng thấy cảnh tượng thảm tuyệt nhân hoàn như vậy. Hai mẹ con đứng chết lặng tại chỗ. Bạch Thanh Gia vô thức nắm chặt tay mẹ, khẽ hỏi: "Mẹ ơi... người kia..."
... Chết như thế nào?
Hạ Mẫn Chi làm sao mà đáp nổi. Những điều mắt thấy tai nghe suốt mấy ngày qua đã hoàn toàn lật đổ nhận thức trước đây của bà về thế giới này. May thay có một người đàn bà bên cạnh ngoảnh lại nhìn họ, vừa thở dài vừa giải thích: "Cảnh này các cô chưa từng thấy sao? Quán phát cháo vốn chuyên kiếm tiền từ người chết..."
Một thế đạo hỗn loạn có thể đáng sợ đến mức nào?
Lòng người bị dồn ép đến cùng cực, tàn nhẫn và hiểm ác đều bị lôi tuột ra ánh sáng. Ngay cả một quán phát cháo nho nhỏ cũng giăng sẵn những cái bẫy nhuốm máu, dễ dàng đoạt mạng người ta.
Nay binh họa nổi lên khắp nơi, kẻ phải chạy loạn đâu chỉ có dân nghèo trắng tay? Ngay cả những hương thân có chút gia sản cũng phải vì tránh họa mà ly hương, kiểm kê ruộng đất trong nhà, bán đổi thành vàng mang theo bên mình. Để tránh bị cướp bóc, họ còn cải trang thành lưu dân, lẫn vào đám đông, chỉ mong một đường bình an chạy tới nơi tạm chưa có chiến loạn.
Quán cháo chính là nhắm vào đám người ấy.
Một mặt, họ dùng thứ cháo loãng như nước để thu hút lưu dân; mặt khác, lại đặt sẵn màn thầu cùng các loại lương khô bên cạnh. Cháo thì phát không, nhưng màn thầu phải bỏ tiền mua. Nếu bụng chưa no, muốn dễ chịu hơn thì cứ móc tiền ra.
Đến lúc ấy, những hương thân có tiền không thể giấu được nữa. Họ cũng đã đói lả nhiều ngày, thấy có lương khô sao có thể khước từ? Lập tức thò tay vào túi, đổi lấy màn thầu, ngấu nghiến nuốt xuống.
Nhưng một người nhịn đói lâu ngày mà đột nhiên ăn phải thứ bánh khô cứng ấy thì sẽ ra sao?
Thân thể vốn không chịu nổi. Kẻ xui xẻo chỉ một lát sau đã ngã xuống tắt thở. Khi ấy, bọn tiểu nhị của quán phát cháo sẽ bước ra, lục soát sạch vàng mang theo trên người, để vị thiện nhân phía sau hung hăng vơ vét một khoản.
Đó là một thế giới u tối mà người ở tầng trên vĩnh viễn không thể tận mắt chứng kiến.
Nó vận hành theo vô số quy tắc tàn khốc đến mức khó tin, đủ khiến mọi phòng bị trong lòng người ta sụp đổ chỉ trong khoảnh khắc, chỉ còn lại một bãi vụn nát.
Bạch Thanh Gia cảm thấy tay mình run rẩy.
Thi thể một người đàn ông xa lạ nằm bên đường. Một sinh mạng sống sờ sờ lại không quý bằng nửa chiếc màn thầu.
Vậy còn cô?
Còn mẹ cô?
Mạng của họ đáng giá bao nhiêu?
Có nặng hơn được những ác niệm và tham dục vô cùng vô tận nơi đáy lòng con người chăng?
Nghĩ đến đó, cô chỉ thấy gai ốc dựng đứng. Nỗi sợ hãi như bóp nghẹt trái tim cô. Chỉ lo rằng mình và mẹ cũng sẽ chết nơi đất khách như người đàn ông kia.
Lúc này cô chỉ muốn lập tức rời khỏi chốn quỷ ăn thịt người này, chẳng còn tâm trí nào nghĩ đến việc truy tìm kẻ trộm. Cô nắm lấy tay mẹ, vội vã chạy ra khỏi sân trạm dịch, lao về phía núi non quanh co và cánh đồng hoang vu phía trước...
Từ An Khánh đến huyện Dực chừng một trăm năm mươi dặm. Hôm qua xe ngựa đã đi được quá nửa, nay chỉ còn chưa đầy sáu mươi dặm nữa là đến nhà.
Nhưng nơi hoang vu không người này lấy đâu ra xe cộ? Cùng lắm chỉ gặp lưu dân chạy nạn, mà ai nấy đều từ Nam An Huy chạy ra ngoài, chẳng có một người nào cùng đường với họ.
Vì thế, hai mẹ con chỉ có thể xách hành lý, ngược dòng người mà đi bộ. Khi lạc hướng lại phải dừng lại hỏi đường. Gian nan đến đâu, khỏi cần nói cũng rõ.
Hạ Mẫn Chi cả đời chưa từng chịu khổ như vậy. Huống hồ tuổi đã cao, thể lực suy giảm, đi hết sáu mươi dặm với bà chẳng khác nào cực hình.
Bạch Thanh Gia không cõng nổi mẹ, chỉ có thể thay bà xách va-li. Thân thể gầy yếu của cô thực ra cũng đã ở bên bờ sụp đổ. Mỗi bước chân lún xuống bùn lầy, trong lòng cô lại thêm một phần tuyệt vọng. Huyện Dực mơ hồ như một ảo ảnh giữa sa mạc, dường như vĩnh viễn không thể chạm tới, tựa hồ sẽ kéo những kẻ cố chạy về phía nó xuống một vực sâu không đáy.
Cứ thế, họ đi... đi mãi...
Từ ban ngày đến khi trời tối.
Đi đến mức bàn tay nhỏ bé cầm va-li của Bạch Thanh Gia phồng lên thành những bọng nước lớn.
Đi đến khi nơi cuối cánh đồng hoang thấp thoáng khói lửa bốc lên.
Đi đến khi bốn bề vắng lặng, dường như chỉ còn bóng quỷ đồng hành cùng họ.
Rốt cuộc...
Trong màn đêm đen kịt, họ đã nhìn thấy cổng thành huyện Dực.

