Khổng Mộng Khoa ngồi co ro suốt nửa đêm, cơn buồn ngủ dồn dập kéo đến, hai mắt trĩu nặng. Mãi đến khi bên ngoài tiếng gà gáy vang lên, hai tên nha dịch mới ngái ngủ đi đến mở cửa sắt.
Khổng Mộng Khoa ngồi thẳng dậy trong góc phòng, cố gắng giữ tỉnh táo, lạnh lùng hỏi: “Đến giải ta đi thẩm vấn?”
Hai người nọ nhìn nhau một thoáng, rồi đặt một hộp cơm xuống, đáp: “Lão gia sai chúng ta mang chút đồ ăn tới. Chờ tú tài dùng xong, mới khởi hành đến nha môn.”
Khổng Mộng Khoa mở hộp cơm ra, bên trong là một bát lớn mì nước nấu với cải muối, một đĩa măng thái sợi, một đĩa nấm xào mỡ gà, đều được chuẩn bị rất sạch sẽ, tinh tế.
Nước canh trong vắt, sợi mì mềm mại.
Nhưng hắn đã quá đói đến mức chẳng còn vị giác. Hắn lặng lẽ nghĩ: “Không lẽ đây là bữa cơm đoạn đầu?”
Tội danh gian lận trong thi cử, lớn thì lớn, nhỏ thì nhỏ. Hằng năm có không ít học sinh lót bạc mua chuộc giám khảo, bị bắt quả tang cũng chỉ chịu mấy chục hèo, tước bỏ công danh rồi thôi. Nhưng nếu dính đến tranh đấu bè phái, trở thành vật hy sinh để răn đe kẻ khác, vậy thì cái đầu trên cổ cũng chưa chắc giữ nổi.
Khổng Mộng Khoa ăn được nửa bát mì, chợt nghẹn lại, không tài nào nuốt xuống thêm nữa.
Hắn cầm bát trên tay, ánh mắt trống rỗng, thì thào: “Đây chính là bữa cơm cuối cùng sao?”
Nào hay hai tên nha dịch kia lại càng tò mò hơn. Từ khi làm việc ở nha môn, chúng đã quen quát tháo, sai bảo tù nhân như chó mèo, chưa bao giờ có chuyện như lần này, đích thân huyện thái gia bí mật sai sư gia dặn dò, bảo chúng mang đồ ăn đến cho phạm nhân. Hơn nữa, còn phải nhấn mạnh rằng đây là lệnh của huyện thái gia.
Nếu nhà họ Khổng thực sự có quyền thế hoặc giàu có, thì sao lại rơi vào cảnh ngộ thê lương thế này?
Sau khi ăn xong bát mì nước, hai tên nha dịch chỉ lỏng tay giữ Khổng Mộng Khoa, ba người ai nấy ôm một mối nghi ngờ riêng, lặng lẽ tiến về đại đường.
Trên công đường, huyện thái gia đã nghiêm tọa phía trên, hai vị huấn đạo của huyện học cũng có mặt.
Huyện thái gia vỗ mạnh kinh đường mộc, quát lớn: “Thăng đường!”
Đám nha dịch, bộ khoái cùng đồng thanh hô: “Uy võ—!”
Theo luật, phạm nhân trước khi thẩm vấn phải chịu mười gậy để thị uy. Nhưng huyện thái gia chỉ phất tay áo một cái, lập tức miễn hình phạt cho Khổng Mộng Khoa, thậm chí còn dùng giọng điệu ôn hòa hỏi: “Ngươi là sĩ tử tham gia khoa thi mùa thu năm nay, Khổng Mộng Khoa? Quê quán ở đâu?”
Theo lý, công danh của hắn chắc chắn đã không còn, vốn phải quỳ xuống trả lời. Nhưng hai tên nha dịch đã nghe phong thanh một số chuyện, liền để mặc hắn đứng thẳng đáp lời: “Tiểu sinh chính là Khổng Mộng Khoa, người thôn Tiểu Giang, bản huyện.”
Huyện thái gia mở sổ án, tiếp tục tra hỏi: “Ngươi hối lộ đồng khảo quan Địch Nhân, để hắn làm ám ký trên bài thi của ngươi, có đúng vậy không?”
Khổng Mộng Khoa phẫn nộ nói: “Tiểu sinh mỗi năm được trợ cấp tám lượng bạc, ngày ngày cháo loãng với rau muối, tằn tiện lắm mới đủ chi tiêu. Hai lượng dùng vào ăn uống, bốn lượng mua bút mực giấy, thêm bốn lượng mua sách, còn phải tự bỏ tiền túi ra bù thêm hai lượng. Tiểu sinh lấy đâu ra vàng bạc mà hối lộ khảo quan?”
Huyện thái gia vuốt râu, quay sang hỏi hai vị huấn đạo: “Các ngươi xác nhận hắn nói đúng chứ?”
Hai vị huấn đạo cùng chắp tay đáp: “Quả thực số lượng chi tiêu tương ứng với lời khai của hắn.”
Huyện thái gia lại hỏi: “Nhà ngươi làm nghề gì? Hai lượng bạc bù thêm ấy từ đâu mà có?”
Khổng Mộng Khoa thầm nghĩ: “Huyện thái gia này lại khách khí đến thế, dường như có phần kiêng dè ta, thật kỳ lạ.”
Dù vậy, hắn vẫn đáp: “Tiểu sinh từ nhỏ đã mồ côi cha, sau này lại mất mẹ. Nhà có hai mẫu ruộng cằn, nhưng không ai canh tác. Hai lượng bạc bù vào sinh hoạt phí đều là tiền nhuận bút khi viết câu đối và chữ thọ thuê cho người ta.”
Huyện thái gia im lặng, cúi đầu xem xét hồ sơ, nhưng không nhìn Khổng Mộng Khoa.
Khổng Mộng Khoa lại nghĩ: “Nếu đã không tin, vậy còn hỏi ta làm gì?”
Huyện thái gia thở dài, gõ nhẹ vào quyển án, chậm rãi nói: “Đồng khảo quan Địch Nhân đã khai nhận: Vào thượng tuần tháng bảy, có một tiểu đồng đến nhà hắn đưa thư. Trong thư yêu cầu hắn khi chấm thi hãy lưu ý, nếu có thí sinh nào dùng câu ‘Vi chính dĩ đức, thí như Bắc Thần’ để phá đề, thì phải tiến cử bài thi đó lên chủ khảo. Mà bài thi của ngươi, chính là dùng câu này để phá đề. Chuyện này giải thích thế nào đây?”
Khổng Mộng Khoa cau mày: “Kỳ thi mùa thu năm nay, đề kinh nghĩa là ‘Cửu tam. Hệ độn, hữu tật lệ. Súc thần thiếp, cát. Tượng viết: Hệ độn chi lệ, hữu tật bại dã. Súc thần thiếp cát, bất khả đại sự dã.'”
Hắn ngẫm nghĩ giây lát, rồi tiếp: “Đề này nói về đạo xử thế, giữ mình tránh họa. Dùng ‘Vi chính dĩ đức’ để phá đề, cũng không phải không thể, nhưng cách đó không hay.”
Hai vị huấn đạo của huyện học nghe vậy, tò mò hỏi: “Vậy theo ngươi, nên phá đề thế nào?”
Khổng Mộng Khoa lập tức giảng giải, hai người nghe xong gật đầu lia lịa, tán thưởng: “Quả nhiên là một cách phá đề rất tinh diệu!”
Huyện thái gia tuổi đã cao, đã lâu không còn tham gia khoa cử, nghe mà nhức cả đầu. Ông ta xua tay, nói: “Nhưng thực tế, kỳ thi này đúng là có một bài thi sử dụng phương pháp như Địch Nhân đã khai, và trên bài thi đó viết tên ngươi.”
Dứt lời, ông ta ra hiệu cho nha dịch mang một bài thi đã được chấm bằng mực đỏ đến trước mặt Khổng Mộng Khoa.
Khổng Mộng Khoa cúi đầu nhìn, quét mắt qua từng dòng chữ trên bài thi. Tên trên đó đúng là của hắn, nhưng nội dung bài thi hoàn toàn không phải những gì hắn đã viết trong kỳ thi mùa thu.
Trong lòng hắn dấy lên một mối ngờ vực sâu sắc, hắn cất giọng bình tĩnh nhưng sắc bén: “Tiểu sinh tuyệt đối chưa từng viết như vậy. Những chuyện khác không dám khoác lác, nhưng riêng về trí nhớ, tiểu sinh có chút bản lĩnh. Ngay lúc này, có thể đọc lại toàn bộ bài thi của mình để đại nhân minh xét!”
Không chờ huyện thái gia phản ứng, hắn liền cất giọng trầm ổn, đọc lại nguyên vẹn bài thi của mình.
Hai vị huấn đạo càng nghe càng gật gù, một người thán phục: “Nếu bài thi quả thực được viết như vậy, e rằng việc đỗ tiến sĩ không phải là chuyện xa vời!”
Huyện thái gia vẫn do dự, hỏi: “Liệu có khả năng ngươi khi thi viết một đằng, giờ lại đọc một nẻo không?”
Khổng Mộng Khoa cười khổ: “Nếu tiểu sinh có bản lĩnh làm thơ trong bảy bước, sao lại lận đận mãi mà chưa đỗ đạt chứ?”
Huyện thái gia nghĩ mãi không thông, bèn nói: “Chẳng lẽ là khi chép lại bài thi đã bị nhầm lẫn? Nhưng quy trình chép bài có ba người cùng kiểm tra, tuyệt đối không thể có sai sót.”
Lời ông ta nói không hề sai.
Sau khi kỳ thi hương kết thúc, bài thi của các học sinh được thu lại, trước tiên sẽ được chấm bằng mực đỏ, sau đó phải được chép lại một lượt bằng nét chữ khác để tránh việc giám khảo nhận ra nét chữ thí sinh mà thiên vị.
Công việc chép lại này yêu cầu hai người cùng lúc sao chép để giám sát lẫn nhau, lại thêm một giám sát viên đứng bên cạnh theo dõi.
Thông thường, một thí sinh muốn mua chuộc cả ba người này mà không để lộ sơ hở gần như là điều không tưởng.
Khổng Mộng Khoa lạnh lùng nói: “Chỉ cần tra ra bài thi gốc của ta đã bị đề tên ai, tất sẽ biết kẻ nào đã mua chuộc đồng khảo!”
Huyện thái gia gật đầu: “Cũng có lý!”
Ông ta vỗ mạnh vào bàn, trầm giọng tuyên bố: “Vụ án này còn nhiều khuất tất. Nay cho phép học sinh Khổng Mộng Khoa tự mình điều tra, thời hạn là một tháng. Nếu đến lúc đó không thể chứng minh bản thân trong sạch, vẫn sẽ bị xử theo tội danh gian lận thi cử!”
Rời khỏi nha môn, Khổng Mộng Khoa mơ hồ, trong lòng không khỏi tự giễu: “Ta không tiền, không thế lực, làm sao điều tra đây?”
Nhưng dù sao hắn cũng vừa thoát khỏi một cửa tử, có được một cơ hội giành lại công lý. Nếu xét cách xử lý vụ việc của huyện thái gia, đến lúc đó hắn bỏ trốn về thôn làng, có lẽ cũng chẳng ai đuổi theo truy cứu.
Khổng Mộng Khoa không thể quay về nhà Tứ Bà, cũng không muốn đến huyện học mà phải chạm mặt những đồng môn đã đỗ đạt. Đứng ngẩn ngơ trước cửa nha môn, hắn không biết phải đi đâu.
Người qua lại tấp nập trên quan đạo, gió thu thổi qua, một chiếc lá vàng rụng xuống đầu hắn. Hắn nhấc lá lên, bất giác nhớ ra, bạc của A Tú ca chẳng phải giấu trên cây hay sao?
Nghĩ đoạn, hắn men theo bức tường đỏ mà đi. Quả nhiên, ở phía ngoài cổng đông có một cây liễu đã cao hơn hai trượng. Nhánh thứ hai từ gốc lên cách mặt đất hơn một trượng, hắn nhảy lên cũng không với tới.
Khổng Mộng Khoa cắn răng, ôm lấy thân cây, dùng sức bật chân mà leo lên như lũ trẻ nghịch ngợm. Nhưng leo cây là việc hao sức hơn tưởng tượng. Chẳng bao lâu, cánh tay hắn đau nhức, mềm nhũn, cả người trượt xuống. Nhìn bộ quần áo trên người, hắn nhíu mày: Lỡ mài rách thì không hay.
Hắn bèn mượn một cây trúc dài từ một tiệm ven đường, trở lại dưới gốc liễu, dùng trúc quật lên nhánh cây. Cây liễu vốn đã lưa thưa lá, bị hắn đánh tới, cành khô rung rinh, lá rụng xào xạc như mưa.
Thấy cảnh tượng ấy, một tên lính gác cổng quát lên: “Ê, tiểu tử kia, làm trò gì vậy!”
Khổng Mộng Khoa từ bé đến lớn chưa từng làm chuyện xấu, trong lòng chột dạ. Nghe quát, hắn càng cuống cuồng. Chợt nhớ đến một câu trong Trang Tử, Tề Vật Luận: “Dùng chí không phân, thần liền tụ.”
Giống như khi dán nhựa để bắt ve sầu, muốn gõ trúng cũng phải chuyên tâm.
Nghĩ vậy, hắn dồn hết sức, vung trúc mạnh một cái, một chiếc túi vải bẩn thỉu rơi từ trên cây xuống. Hắn lập tức chụp lấy, quay đầu bỏ chạy.
Tên lính trông thấy liền hô to: “Ngươi chạy cái gì!”
Khổng Mộng Khoa vừa chạy vừa kêu: “Khổng Thánh Nhân phù hộ!”
Tay hắn nắm chặt vạt áo, chạy bạt mạng trên quan đạo. Đợi đến khi bỏ xa bọn lính, không còn ai đuổi theo, hắn mới dừng lại, ngồi th* d*c bên đường.
Hai tay run rẩy hồi lâu, hắn mới mở túi. Một mẩu bạc nhỏ, to chừng hạt đào, lăn ra, phản chiếu ánh nắng nhợt nhạt.
Sợ nó rơi mất, hắn vội nhặt lên, thổi sạch bụi bẩn. Mẩu bạc lạnh lẽo, nặng trĩu trong tay, cũng như chính cõi lòng hắn.
A Tú khi còn ở thôn, là kẻ lanh lợi, hiểu chuyện, ai cũng quý mến. Khi làm tuần kiểm ở huyện, ngay cả đám bổ khoái, dân binh cũng phục y.
Vậy mà y lại chết đuối, để lại một mẩu bạc côi cút giữa nhân gian.
Trời cao không mắt.
Kẻ muốn sống thì không thể sống.
Kẻ nên chết thì lại chẳng chết đi.
Hắn nắm chặt mẩu bạc trong tay, để hơi ấm từ lòng bàn tay truyền vào nó, rồi cất vào người như một lá bùa hộ mệnh. Ngoài một lạng bạc của A Tú ca, trên người hắn chỉ còn lại mấy đồng xu lẻ.
Hắn dùng số tiền còn lại mua một xấp giấy tiền, rồi thuê một chiếc xe bò lắc lư chậm rãi tiến về Tây Hồ. Lúc này, trời đã xế chiều. Mặt nước xanh biếc, mây hồng như lửa, sắc thu trải dài vô tận. Khổng Mộng Khoa ngồi xổm bên hồ, đốt giấy tiền, miệng lẩm bẩm: “Thiên hạ giang hà, đồng quy nhất nguyên. A Tú ca, ta ở đây đốt giấy, mong huynh cũng có thể nhận được.”
Nơi này cách xa nhà dân, mặt trời lặn hẳn, giấy tiền cháy hết, xung quanh chỉ còn lại bóng cây âm trầm quỷ mị và mùi tro giấy vẫn còn vương trong không khí.
Hắn chẳng những không sợ, mà còn có chút mong chờ. Nhìn xuống làn nước tĩnh lặng, hắn nhẹ giọng nói: “A Tú ca, lần trước huynh nói ta chẳng có gì thay đổi, ta vui lắm. Người khác đều thích nói ‘nhỏ thông minh, lớn chưa chắc đã giỏi’, chỉ có huynh chưa từng nói vậy.”
Hắn khẽ cười: “Có khi huynh còn chẳng biết câu này nữa. A Tú ca, huynh hỏi ta đã tha thứ cho huynh chưa. Sao lại hỏi vậy chứ?”
Mặt nước lặng thinh.
Khổng Mộng Khoa thò tay vào trong hồ, để nước lạnh ngấm vào da, lòng thầm nghĩ: “A Tú ca, hy vọng khi huynh ra đi, nước không lạnh thế này!”
Ý nghĩ ấy vừa lướt qua nửa chừng, bỗng một bàn tay lạnh buốt vươn ra, túm lấy hắn, kéo mạnh về phía sau. Khổng Mộng Khoa giật mình, quay phắt lại.
Trong bóng tối, Nghiêm Tú đứng đó, tay dắt một con ngựa đen, ánh mắt lạnh lùng, quát: “Khổng Mộng Khoa, ngươi nhất định muốn chết sao?”
Khổng Mộng Khoa bật cười: “Ta đâu có muốn tìm chết. Huyện lệnh đã thả ta rồi, ta chết làm gì? Ông ta đối xử với ta hòa nhã lắm, có phải huynh đã giúp ta không?”
Nghiêm Tú thoáng sững sờ, rồi buông cổ áo hắn ra, đáp: “Ta đến tìm lão già đó trong mộng, bảo rằng giờ ta làm Âm Sai, nể chút thể diện của ta mà chiếu cố ngươi, nếu không ta sẽ câu hồn lão trước.”
Y khoanh tay, nhìn Khổng Mộng Khoa, cười khẩy: “Được rồi, ngươi cứ tiếp tục nói chuyện một mình đi. Đang nói đến đâu rồi?”
Khổng Mộng Khoa bật cười: “Đa tạ huynh! Trùng hợp thật, ta đang nói đến huynh thì huynh lại xuất hiện. Lần trước huynh nói gì ấy nhỉ? Đột nhiên chạy mất tiêu.”
Nghiêm Tú quay mặt đi, tránh ánh mắt hắn, khẽ hỏi: “Ta đã nói gì, ta không nhớ nữa.”
Khổng Mộng Khoa cười nhẹ: “Không sao, ta thì nhớ rất rõ.”
Hắn nghiêng đầu, chậm rãi nhắc lại: “Huynh hỏi ta… có tha thứ cho huynh không.”
Nghiêm Tú đưa tay xoay xoay tấm thẻ bài bên hông, mãi lâu sau mới cất giọng khẽ khàng: “Vậy bây giờ ngươi còn giận không?”
Khổng Mộng Khoa nhìn ra giữa hồ, ánh mắt xa xăm, lẩm bẩm: “Ta có thể giận sao? Mấy ngày trước huynh còn chèo thuyền cùng ta, vậy mà lần sau gặp lại, huynh đột nhiên không muốn thân thiết với ta nữa. Khi đó, ta cứ tưởng mình đã làm gì sai, khiến huynh phật ý.”
Nghiêm Tú cúi đầu, không dám đối diện hắn, ậm ừ: “Ngươi… ngươi đừng nghĩ vậy. Không phải lỗi của ngươi.”

