Ông bà nội của Thư Vọng đều là những người có tài vận rất tốt. Hồi trẻ từng làm lãnh đạo trong nhà máy, đến thời kỳ kinh tế mở cửa thì lập công ty kiếm được một khoản, sau đó lại gặp đúng lúc giải tỏa nên đầu tư nhà đất, cổ phiếu cũng chưa từng thua lỗ, cứ thế thuận theo làn gió thời đại mà càng đi càng cao.
Từ nhỏ nhà cô đã chưa bao giờ thiếu tiền. Nói ra thì ở Bắc Thành, nơi khắp nơi đều là quyền quý và hào môn, gia đình cô chẳng tính là gì ghê gớm, nhưng nhờ phúc của hai cụ, chẳng ai phải phiền não vì tiền bạc bao giờ.
Ông bà vốn tin rằng, biết đủ thì lòng tự nhiên an vui, mẹ cô hồi trẻ từng quen sống tiết kiệm, lấy chồng rồi đến giờ vẫn vậy. Bố cô, Thư Trường Đình lại mang dáng dấp của một người chỉ yêu sách vở, gần như không vương chút bụi trần tục của tiền tài. Ngay cả bản thân Thư Vọng cũng không phải người nhiều h*m m**n vật chất.
Ăn mặc không lo, nhà xe đầy đủ, tài sản dưới tên đủ để sống thong thả hai đời, cả nhà cứ thế mà sống bình yên, dễ chịu.
Nghe thì có vẻ chẳng thiếu thứ gì, vậy rốt cuộc cô còn muốn gì nữa?
Lớn lên trong một cuộc sống ổn định và đủ đầy, mong ước duy nhất thời thơ ấu của Thư Vọng chỉ là: bố mẹ có thể nghỉ ngơi nhiều hơn một chút, dành cho cô thêm chút thời gian ở bên.
Khi cô còn nhỏ, bố mẹ đều rất bận. Thư Trường Đình bận viết sách, viết luận văn, thăng chức danh; Trương Tĩnh Nguyệt thì bận thi đua tiên tiến, giành danh hiệu xuất sắc. Ngày thường tăng ca là chuyện thường, đến kỳ nghỉ đông hè, Thư Trường Đình thường đi công tác xa, Trương Tĩnh Nguyệt cũng sẽ theo cùng.
Thế là họ gửi Thư Vọng đến nhà ông bà nội. Ngày thường ở nhờ vài hôm cũng có, nghỉ đông nghỉ hè ở luôn thì càng nhiều.
Có tài xế đưa đón, có dì giúp việc nấu ăn dọn dẹp, bố mẹ cô cảm thấy như vậy là quá tốt rồi, khi còn nhỏ có người chăm, đến lúc đi học thì có môi trường ổn định yên tĩnh, ông bà cũng có người bầu bạn, ai cũng vui vẻ, tốt biết bao.
Nhưng Thư Vọng lại không cảm thấy như vậy.
Ông bà đối xử với cô rất tốt, nhưng mỗi lần đi học tan học nhìn thấy bố mẹ người khác tới đón, cô vẫn mong bố mẹ mình cũng có thể xuất hiện như thế.
Lũ trẻ trong khu có những nhóm bạn nhỏ, phần lớn đều là con nhà quen biết thân thiết với nhau, cô chẳng chen vào nổi. Có lần đang chơi dưới khu, cô lén nghe thấy bọn họ nói nhỏ: "Cậu nhìn bạn kia đi, bố mẹ tớ bảo nhà bạn ấy là nhà giàu mới nổi..."
Thư Vọng biết họ đang nói mình, nhưng chẳng hiểu "nhà giàu mới nổi" nghĩa là gì. Cô từng muốn hỏi Thư Trường Đình và Trương Tĩnh Nguyệt, nhưng lại chẳng gặp được họ, đến lần sau về nhà thì đã quên mất rồi.
Bạn nam ngồi cùng bàn hồi tiểu học của cô rất hay giành bút của cô. Có loại bút nhập khẩu, thân mềm mềm, cô mua một chiếc, cậu ta lại giành một chiếc. Cậu ta nói: "Cậu có nhiều như thế, cho tớ mượn dùng chút thì sao?"
Nói là mượn nhưng chưa từng trả lại. Thư Vọng rất bực nhưng lại không muốn mách thầy cô, sợ giống như đi mách lẻo đâm thọc. Cô kể với Thư Trường Đình và Trương Tĩnh Nguyệt, họ chỉ mua cho cô thêm rất nhiều bút mới.
Trẻ con khi muốn giành lấy sự chú ý của bố mẹ thường chỉ có hai cách: trở nên tệ hơn, hoặc trở nên tốt hơn. Và Thư Vọng đã chọn cách thứ hai.
Họ hàng khen rằng: "Con nhà chị thi đỗ vào trọng điểm rồi à, học giỏi thật đấy, hâm mộ lắm luôn."
Trương Tĩnh Nguyệt sẽ đáp: "Đúng vậy, Y Y nhà tôi từ nhỏ đã hiểu chuyện, chẳng phải lo lắng gì."
Thế là Thư Vọng lại càng cố gắng học hơn. Mỗi khi đem bảng điểm xuất sắc hay giấy khen các loại đặt trước mặt Trương Tĩnh Nguyệt, mẹ sẽ khen cô, và những lời khen ấy khiến cô thật sự vui.
Nhưng cũng không phải lúc nào cũng là lời khen.
"Lần này sao lại tụt rồi? Lần trước thi giữa kỳ chẳng phải đứng nhất lớp sao, lần này môn nào không tốt thế?"
"Vật lý của con vẫn phải chú ý thêm đấy."
"Người ta đều dốc sức tăng tốc hết rồi, con cũng không được chậm lại đâu. Mùa hè đăng ký thêm lớp học thêm nữa nhé."
Thực ra Thư Vọng cảm thấy đứng nhì cũng đã rất tốt rồi, nhì lớp, top 10 toàn khối, bản thân cô hoàn toàn hài lòng. Nhưng Trương Tĩnh Nguyệt hình như không nghĩ thế, lúc nào cũng muốn cô tiến xa hơn nữa.
Thư Vọng cũng không rõ có phải chính mình đã khiến kỳ vọng của mẹ ngày một cao hơn hay không. Học hành quá đỗi mệt mỏi, cô bắt đầu có chút hối hận.
Có lẽ vì sắp đến kỳ thi đại học, bố mẹ quan tâm đến cô hơn, nên cô vẫn tiếp tục chống đỡ danh hiệu "học sinh xuất sắc" ấy, thi được điểm cao vào Đại học Công nghệ Bắc Thành, không làm họ thất vọng.
Thời điểm có thể ổn định mà thường xuyên gặp bố mẹ, là sau khi cô vào đại học.
Thư Vọng dọn hết đồ từ nhà ông bà về lại nhà bố mẹ. Tuy nói là ở ký túc xá trường nhưng cuối tuần nếu không đi chơi với bạn, phần lớn cô sẽ chọn về nhà ở một hai hôm. Hơn nữa, Đại học Công nghệ Bắc Thành và Đại học Bắc Thành ở rất gần nhau, đi xe đạp là tới.
Năm ba đại học, khi bắt đầu phải nghĩ về tương lai, lựa chọn rất nhiều — đơn giản là tiếp tục học lên, đi làm, hay thi vào biên chế, thi công chức. Cô muốn tiếp tục học nghiên cứu sinh.
Ông bà nói: "Nhà mình không thiếu tiền, ra ngoài nhìn ngắm thế giới cũng tốt, coi như đi du lịch vậy."
Mẹ cô nói: "Năm đó nếu mẹ có cơ hội, chắc chắn mẹ cũng sẽ ra nước ngoài học thêm. Con thay mẹ thực hiện giấc mơ này cũng tốt mà."
Thầy cô trong trường cũng khuyên cô có thể nộp hồ sơ ra nước ngoài. Với bảng điểm và hồ sơ năng lực của cô, những trường kiến trúc hàng đầu ở Anh Mỹ nếu mạnh dạn thử sức, khả năng trúng tuyển vẫn rất lớn.
Thư Vọng suy nghĩ một hồi, cuối cùng chọn ở lại trường, nhận suất học thẳng lên cao học.
Cô rốt cuộc muốn gì? Chẳng qua chỉ là một nhà ba bữa cơm, bốn mùa quây quần bên nhau. Đó là ước muốn tha thiết nhất thuở nhỏ của cô, nhưng bây giờ cô đã lớn rồi.
Nhân cách cơ bản đã hình thành, quãng thời gian cần nhất sự đồng hành và yêu thương của cha mẹ cũng đã trôi qua. Cô đã trở thành đúng như lời Trương Tĩnh Nguyệt từng nói năm nào, rất hiểu chuyện, rất độc lập, chẳng cần ai phải bận lòng.
Những điều thời niên thiếu không thể chạm tới, đến khi trưởng thành, thật ra cô đã không còn quá cần nữa.
Thư Vọng nghĩ, nếu năm đó lúc mình mới mười mấy, hai mươi tuổi đã thẳng thắn công khai thì tốt biết bao, nhân lúc bản thân còn ngây ngô chưa định hình, nhân lúc những quy chuẩn của xã hội còn chưa kịp ô nhiễm đầu óc, nhân lúc chưa tích góp vô số lần do dự, dây dưa, lấy tạm bợ được ngày nào hay ngày đó để ém chặt miệng mình lại. Lẽ ra nên mượn danh tuổi trẻ mà làm một trận ầm ĩ, khóc một trận cho thỏa, còn hơn bây giờ nhìn thấy bố mẹ tóc ngày một bạc đi, lại càng không mở miệng nổi.
Chỉ là, năm đó cô vẫn chưa gặp Đường Dật Phong.
Thời cấp ba cùng Lương Tư trốn học đi dự ký tặng sách; giờ thể dục thì nấp sau khán đài sân vận động để khỏi phải chạy vòng quanh sân; trong giờ tự học lại lén chuyền tay nhau những cuốn truyện bên ngoài để đọc thay phiên, đó là những ký ức vui vẻ nhất trong thời thanh xuân của cô, là sự ấm áp của bạn bè.
Đến khi gặp Đường Dật Phong, những cảm xúc tưởng chỉ thuộc về phim ảnh và tiểu thuyết cuối cùng cũng có thật trong đời cô. Cuộc sống tĩnh lặng của cô nhờ đó mà loé lên sắc màu rực rỡ nhất; hơi ấm của tình yêu nóng đến mức khiến trái tim run rẩy đau nhói.
Năm đó vừa mới ở bên Đường Dật Phong, chuyện có nên công khai với gia đình hay không Đường Dật Phong rất phản đối. Nhưng suốt bao năm sau đó, người cứ chần chừ mãi lại chính là Thư Vọng.
"Thật - ra - con - thích - con - gái." Chỉ mấy chữ đó thôi, một năm nói một chữ cũng đủ để nói xong rồi, vậy mà cô lại chưa từng nói.
*FYI, câu 'Thật ra con thích con gái' này đủ 6 chữ để tương ứng 6 năm yêu nhau với Đường Dật Phong
Bao năm nay, tình cảm giữa cô và Đường Dật Phong vẫn rất ổn định, quan hệ giữa cô và gia đình cũng rất ổn định. Có lúc Thư Vọng từng nghĩ cứ giữ nguyên trạng thái này cũng được, để mọi thứ cùng duy trì một sự cân bằng giả tạo.
Cô mắng Lâm Toàn tham lam, tham muốn quá nhiều, nhưng chính cô nào có khác gì. Vừa muốn một tình yêu nồng nàn bền lâu, lại vừa muốn một gia đình hòa thuận êm ấm.
Thực ra cô cũng không chắc việc Đường Dật Phong chia tay có liên quan trực tiếp đến chuyện này hay không, nhưng cô biết rõ, bản thân mình luôn rất để tâm.
Nói dối nhiều quá, đến lúc này cô mới nhận ra người vẫn luôn tự lừa dối mình chính là bản thân cô.
Năm đó Đường Dật Phong hỏi cô: sao lại phát hiện mình thích con gái. Thư Vọng nói mình chẳng phát hiện gì cả, chỉ thích mỗi mình em ấy mà thôi.
Về sau Thư Vọng mới nhận ra, câu nói đó là lời nói dối.
Cô nhớ lại lúc ban đầu, nếu Đường Dật Phong là một người đàn ông, liệu cô có còn muốn đến gần, còn muốn chủ động tặng khăn, rủ đi ăn đi dạo, rồi đưa về nhà ở chung hay không?
Câu trả lời là hoàn toàn không thể.
Về tâm lý, cô yêu chính con người Đường Dật Phong; về sinh lý, cô cũng yêu những dịu dàng mang tất cả đặc trưng nữ tính nơi em ấy, nếu đổi sang giới tính khác, cô căn bản không thể chấp nhận được.
Tình yêu liên quan đến tâm hồn, cũng liên quan đến thể xác.
Con người ta không thể mãi sống trong dối trá, ít nhất cô thì không.
Cô nên thành thật với chính mình, cũng nên thành thật với những người thân cận nhất. Đây là điều Đường Dật Phong dùng sự rời đi để dạy cô.
Nếu nói đề tài tốt nghiệp của Đường Dật Phong là khiến đóa hoa nở ra từ đầm lầy, thì của Thư Vọng chính là mở cánh cửa lồng giam vốn chẳng hề khóa lại ấy ra.
Thứ có thể giam giữ cô từ trước đến giờ, chỉ có chính cô mà thôi.
Vậy nên vào năm 33 tuổi, cái tuổi nổi loạn mà Thư Vọng chậm trễ suốt bao năm cuối cùng cũng đến.
Rằm tháng giêng, Tết Nguyên Tiêu, ngày đoàn viên sum họp. Thư Vọng ngồi trước bàn ăn trong phòng khách nhà bố mẹ, vừa khẽ khuấy chiếc bánh trôi nhân mè đen trong bát, vừa bình tĩnh mở miệng:
"Con và Đường Dật Phong ở bên nhau đã rất lâu rồi."
