Ta trố mắt kinh ngạc.
"Ngài điên rồi." Ta buột miệng nói, "Việc đó cần bao nhiêu nhân lực? Bao nhiêu tiền bạc? Hiện giờ đại hạn, trăm họ đến cơm còn chẳng có mà ăn, lấy đâu ra sức lực mà đào kênh?"
"Cho nên mới phải nhanh." Thẩm Tịch nói, "Nhân lúc hạn hán đang độ ngặt nghèo nhất, ai nấy đều hiểu không có nước sẽ chết nên mới liều mạng. Đợi đến lúc có người chết đói thật sự, lòng người tan rã thì chẳng còn làm được việc gì nữa."
Chàng khựng lại một chút: "Hơn nữa, ta có tiền."
"Tiền cứu tế của triều đình không đủ đâu..."
"Ta có tiền riêng." Chàng nói rất bình thản, "Là tiền mẹ ta để lại, đủ để đào mười con kênh."
Ta không biết phải nói gì.
Người này, vị Tuần phủ đại nhân này, trong đầu chàng đang nghĩ cái gì vậy? Mang tiền riêng ra để đào kênh? Đây là muốn tán gia bại sản hay sao!
"Tại sao?" Ta hỏi, "Tại sao lại gấp gáp như vậy? Đợi đến năm sau, có lẽ triều đình sẽ cấp thêm nhiều ngân khoản hơn..."
"Không đợi được." Thẩm Tịch lắc đầu, "Giang Nam không thể hạn thêm được nữa. Hạn thêm một năm thì không còn là chuyện chết đói nữa mà là chuyện dân biến. Đến lúc đó, thứ chảy ra không phải là mồ hôi mà là máu."
Chàng nhìn về phía bầu trời xa xăm, ánh mắt trầm xuống: "Ta đã từng thấy dân biến. Bảy năm trước, phương Bắc đại hạn, xác chết đói khắp đồng. Lương thực triều đình chậm trễ không tới, bá tánh xông vào nha môn, g**t ch*t huyện quan. Sau đó triều đình phái binh trấn áp, chết mất ba ngàn người. Ba ngàn người đó đều là những người dân đói đến phát điên."
Chàng quay đầu lại nhìn ta: "Ta không muốn Giang Nam cũng trở nên như vậy."
Ta im lặng.
Cha ta cũng từng nói những lời tương tự. Ông bảo, trị thủy cũng như trị người, ngăn chặn không bằng khai thông. Nước nghẽn lâu ngày sẽ vỡ đê, người bị dồn ép lâu ngày tất sẽ tạo phản.
"Ta cần người giúp đỡ." Thẩm Tịch nói, "Một người am hiểu thủy lợi. Những ông lớn ở bộ Công chỉ biết bàn việc trên giấy. Người thực sự hiểu về nước là những người giống như cha ngươi, cả đời gắn bó bên dòng sông."
Chàng nhìn ta: "Ngươi có sẵn lòng giúp ta không?"
Ta không trả lời ngay.
Giúp sao? Giúp thế nào đây? Ta chỉ là một đứa con gái làm bếp mười sáu tuổi đầu. Đào kênh? Trị thủy? Đó là việc của đàn ông, là việc của các quan lớn cơ mà.
Nhưng nhìn vào đôi mắt ấy, đôi mắt sâu như miệng giếng, bên trong có một thứ gì đó khiến ta không tài nào thốt ra lời từ chối được.
"Ta... có thể làm gì?" Ta hỏi.
"Làm đôi mắt của ta." Chàng nói, "Giúp ta xem mạch nước, định tuyến kênh. Tiền công, ta trả ngươi mười lạng một tháng. Không, hai mươi lạng."
Hai mươi lạng. Đủ cho một gia đình bình thường sống trong một năm.
Nhưng ta lắc đầu: "Ta không lấy tiền."
Chàng nhướn mày.
"Ta muốn lương thực." Ta nói, "Ta muốn ngài cam đoan, những người thợ đào kênh mỗi ngày đều được ăn no. Gia đình của họ cũng có thể nhận được lương thực cứu tế."
Thẩm Tịch cười. Lần này là cười thật lòng, nơi khóe mắt hằn lên những nếp nhăn li ti.
"Thỏa thuận như vậy đi." Chàng nói, "Còn gì nữa không?"
"Còn nữa..." Ta nghiến răng, "Ta muốn ngài hứa với ta một chuyện."
"Nói đi."
"Nếu kênh đào xong, nước về rồi." Ta nhìn vào mắt chàng, "Ngài phải ở trước mặt tất cả mọi người mà nói với cha ta — nói cho ông ấy biết, con gái ông ấy không phải ngôi sao tai họa mà là học trò giỏi nhất của ông ấy."
Thẩm Tịch sững sờ.
Hồi lâu sau, chàng gật đầu, một cái gật đầu đầy trang trọng.
"Ta hứa với ngươi." Chàng nói, "Không chỉ nói với cha ngươi mà còn phải nói cho toàn thể dân chúng Giang Nam biết — Lâm Vãn Hòa là công thần cứu giúp Giang Nam."
Sống mũi ta cay cay, vội vàng cúi đầu xuống.
Không được khóc. Khóc là thua cuộc rồi.
"Vậy thì bây giờ," Thẩm Tịch nói, "Dẫn ta đi xem bút ký của cha ngươi. Tất cả mọi cuốn."
Bút ký của cha ta được giấu trong ngăn kín trên xà nhà.
Tổng cộng mười ba cuốn, được bọc trong giấy dầu, bảo quản rất tốt. Thẩm Tịch ngồi trên chiếc ghế nát duy nhất trong nhà ta, lật xem từng cuốn một.
Chàng xem rất kỹ, gặp chỗ mấu chốt còn hỏi ta.
"Chỗ này, 'Lòng sông cũ Thanh Hà về phía Tây ba dặm, gặp tầng đá vôi, không thể đục', nghĩa là sao?"
"Dưới lòng đất vùng đó là đá vôi, chất đá vừa cứng vừa giòn, lại có khả năng có hang động." Ta đáp, "Nếu đào kênh qua đó, hoặc là đi đường vòng, hoặc phải gia cố, nếu không sẽ rất dễ sụt lún."
"Nếu đi vòng thì phải đi thêm bao nhiêu dặm?"
"Ít nhất năm dặm."
"Còn gia cố thì sao?"
"Cần lượng lớn gỗ và đá, chi phí rất cao."
Thẩm Tịch chau mày, dùng bút than đánh dấu lên bản đồ.
Ngoài sân, Lý Trung đang giúp dọn dẹp đồ đạc — ta sẽ chuyển vào nha môn ở lâu dài. Thẩm Tịch bảo việc đào kênh phải bắt đầu càng sớm càng tốt, ta cần phải luôn có mặt để chờ lệnh.
Người trong làng bám trên bờ tường nhìn vào, xì xầm bàn tán.
"Nghe nói Tuần phủ đại nhân định đào kênh à?"
"Đào kênh gì chứ? Sông cạn sạch cả rồi!"
"Bảo là đào lòng sông cũ, dẫn nước sông ngầm về..."
"Điên rồi! Có mà đào đến mùa quýt!"
Tiếng của Lưu góa phụ là lớn nhất: "Chắc chắn là do con nhỏ tai tinh đó mê hoặc rồi! Nó muốn hại chết cả làng ta đây mà!"
Thẩm Tịch nghe thấy nhưng chẳng buồn bận tâm.
Chàng lật tới cuốn bút ký cuối cùng, chợt khựng lại.
Cuốn này rất mỏng, chỉ có vài trang. Trên đó không vẽ sơ đồ sông ngòi mà là bức họa một người — một người phụ nữ với đôi mắt hiền từ, nụ cười nhàn nhạt.
Bên cạnh có một dòng chữ nhỏ: "Vợ ta Uyển Nương, sinh tại vùng sông nước, mất vào năm hạn hán. Nguyện kiếp sau vẫn cùng nàng ngắm nước xuân Giang Nam."
Là mẹ của ta.
Nét chữ của cha ta đến chỗ này có chút run rẩy.
Thẩm Tịch nhìn rất lâu, sau đó khẽ khàng gấp cuốn bút ký lại.
"Cha ngươi rất yêu mẹ ngươi." Chàng nói.
"Ừm." Ta cúi đầu, giả vờ dọn dẹp đồ đạc.
"Ngươi cũng hận trận đại hạn này, có phải không?"
Ta không đáp.
Hận? Đương nhiên là hận. Nó cướp đi cha ta, cướp đi mẹ ta, cướp đi gia đình ta. Nhưng hận thì có ích gì? Hận cũng chẳng thể làm nước quay về, chẳng thể khiến cha mẹ sống lại.
"Ta cũng hận." Thẩm Tịch nói, giọng rất khẽ, "Mẹ ta cũng vì bệnh mà mất. Năm đó kinh thành có đại dịch, chết rất nhiều người. Cha ta làm quan phương xa, không kịp về. Ta ở bên mẹ, nhìn bà ấy lịm dần đi cho đến khi tắt thở."
Chàng ngẩng đầu nhìn ta: "Cho nên ta hiểu cảm giác mất đi người thân nhất là thế nào. Cũng hiểu được cảm giác muốn vì họ mà làm một điều gì đó là ra sao."
Ta sững sờ.
Đây là lần đầu tiên ta nghe chàng kể về chuyện của mình.
"Mẹ ta trước lúc lâm chung đã nói mong ta làm một vị quan tốt, để trăm họ bớt chịu khổ cực." Thẩm Tịch mỉm cười, có chút đắng chát, "Nhưng làm quan rồi mới thấy, quan tốt khó làm. Có đôi khi, rõ ràng ngươi biết làm thế nào là đúng nhưng lại không thể làm được. Bởi vì quy tắc, bởi vì lợi ích, bởi vì... lòng người."
Chàng trả lại bút ký cho ta: "Nhưng cha ngươi đã làm được. Dẫu ông ấy chỉ là một chức quan nhỏ nhưng ông ấy đã để lại những thứ này. Những dòng bút ký này có thể cứu được rất nhiều người."
Ta nhận lấy bút ký, ôm chặt vào lòng.
"Cho nên," Thẩm Tịch đứng dậy, "Chúng ta hãy làm điều gì đó đi. Vì cha ngươi, vì mẹ ta, và cũng vì những cụ già đang quỳ bên đường cầu nước."
Chàng chìa tay ra: "Hợp tác chứ?"
Ta nhìn bàn tay ấy. Đốt ngón tay rõ ràng, lòng bàn tay có vết chai — đó là dấu vết
Ta đưa tay mình ra, nắm lấy.
Tay chàng rất ấm, rất có lực.
"Hợp tác." Ta nói.
Ngay chiều hôm đó, ta chuyển vào nha môn.
Thẩm Tịch sắp xếp cho ta một viện nhỏ độc lập — tuy rất bé nhưng tốt hơn gian phòng hẹp trước kia nhiều. Có phòng ngủ, có thư phòng nhỏ, còn có cả một gian bếp nhỏ.
"Để tiện cho ngươi nghiên cứu bản đồ thủy lợi." Chàng nói, "Ngoài ra, từ ngày mai, mỗi buổi sáng ngươi hãy đến xưởng thợ họp bàn với các cai thợ. Buổi chiều về nấu cơm cho ta và đọc sách."
Ta gật đầu.
Lý Trung giúp ta bê hành lý, nói nhỏ: "Lâm cô nương, đại nhân đối với cô nương thật chẳng bình thường chút nào. Viện này trước đây là nơi sư gia ở, sau khi sư gia đi thì vẫn bỏ trống đến tận bây giờ."
Ta không đáp lời.

