Chạy đường suốt nửa ngày, xe ngựa vừa dừng trước trạm dịch, ngoài xe vang lên tiếng huyên náo mơ hồ. Tiếng vó ngựa dồn dập, người người hô hoán — tựa như một đoàn nhân mã đông đảo đang ùn ùn kéo đến. Tim ta đột ngột siết chặt, tưởng chừng sắp nhảy khỏi lồng ngực. Ta nắm chặt ống tay áo. Lúc này, hắn hẳn phải đang ở Thượng Dương, ở bên người mà hắn thực sự để trong tim mới đúng. Thế nhưng tiếng ồn ào mỗi lúc một gần, rõ ràng là hướng thẳng về phía trạm dịch.
“Vương phi! Vương phi xin dừng bước—!” Một tiếng gọi khản đặc, già nua, như tảng đá rơi vào mặt hồ chết lặng. Ta vén rèm xe. Khoảng sân trạm dịch đã chật kín những người dân vùng biên đầy bụi đường. Một đám người áo quần cũ kỹ, mặt mũi khắc khổ hằn nếp, họ đẩy xe gỗ, xách giỏ đan, tay ôm đồ vật — thở hổn hển, mồ hôi đầm đìa.
Đôi mắt ai nấy đều sáng rực, đồng loạt nhìn về phía ta.
“Vương phi! Xin chờ đã!”
Lão ông tóc bạc tay nâng củ cải dính bùn gấp gáp chen lên:
“Đem cho ngài chút đồ ăn đường xa!”
Phụ nhân xách rổ trứng dành dụm, vỏ trứng lẫn rơm rạ, nâng niu che chở.
“Nhà ta mới xay bột, hấp màn thầu thơm lắm!” — hán tử gánh nửa bao lương thực.
“Còn có dưa muối nhà ta nữa!”
Mấy nắm ngũ cốc, vài bó rau khô, trái táo rừng và quả hắc kỷ trong lòng bọn trẻ… toàn là vật thường ngày, nhưng là những thứ tốt nhất mà họ có thể dâng tặng. Từng món, từng món, chồng đầy khoảng sân.
Quản gia lão Trương đứng đầu hàng, gương mặt có sẹo đỏ rần:
“Vương phi! Mọi người… không nỡ để ngài đi! Tấm lòng này… xin ngài nhất định nhận lấy!”
Lòng ta chua xót, lồng ngực căng lên. Nhìn những gương mặt chân thành tha thiết kia, cổ họng ta nghẹn lại. Giữa đám đông xôn xao, một cậu bé áo rách, má nứt nẻ, tay áo sờn rách bị phụ thân đẩy lên phía trước. Thằng bé đỏ bừng mặt, nắm chặt vạt áo, ngẩng đầu nhìn ta, trong mắt là dũng khí non nớt. Người cha thúc giục khẽ:
“Mau đọc đi!”
Thằng bé ưỡn ngực, giọng non nớt nhưng rõ ràng:
“Thiên lý hoàng vân bạch nhật hôn…”
Nó vừa đọc vừa khua tay, “Bắc phong xuy yến tuyết phân phân—”
Tới câu thứ ba thì kẹt lại, gò má đỏ bừng, luống cuống gãi đầu. Người lớn nín thở, âm thầm cổ vũ. Cuối cùng, ánh mắt bé bỗng sáng lên, hét lớn:
“Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ, thiên hạ hà nhân bất thức quân!”
“Vương phi!” — thằng bé ngẩng đầu, ánh mắt đầy ngưỡng mộ thuần khiết, “Con thuộc thơ rồi! Là do tiên sinh ngài mời tới dạy cho bọn con đó!”
“Đúng đó! Nhà ta giờ có đứa biết chữ rồi!”
“Con gái ta học được kéo sợi đổi lấy tiền, đều nhờ ngài cả!”
“Ngài là tiểu Bồ Tát của Bắc địa chúng ta!”
Gió mang theo cát bụi quất vào mặt, chẳng đau, trái lại thấy bỏng rát. Ta nhìn vào ánh mắt đầy thành kính ấy — những uất ức nuốt vào trong phủ Vương gia, những đêm dài tính toán sổ sách, những lần nhẫn nhịn đối mặt Tiêu Hành — chợt như có nơi để trút ra. Thì ra, ta cũng không phải chẳng để lại điều gì. Ta nghẹn ngào, vội dùng tay áo lau lệ, gượng cười:
“Chư vị, Ôn Tố… nào có đức nào năng. Những thứ này, là lễ vật nặng nề và ấm áp nhất mà Ôn Tố từng nhận được ở Bắc địa!”
“Lão Trương,” ta nhìn về phía quản gia mắt hoe đỏ, “thay ta cảm tạ mọi người. Vương phủ sau này… làm phiền ông chăm lo rồi.”
Lão Trương gật đầu thật mạnh, chỉ “vâng” một tiếng, rồi xoay người, dùng tay áo mạnh mẽ lau mặt.
“Đi thôi, Tố Cẩm.”
