Vị Quân Diệt Tình

Chương 8




Trên đường nam hạ, xe thuyền vất vả, đường sá gập ghềnh.

Ta và Bích Đào giả làm tỷ muội đi nương nhờ thân thích, cố gắng tránh xa quan đạo và thành trấn phồn hoa, chỉ chọn đường nhỏ giữa thôn quê mà đi.

Gió sương dãi nắng là chuyện thường ngày.

Thế nhưng, so với bốn bức tường cao lạnh lẽo nơi cung cấm kiếp trước, thì cảm giác tự do trên đoạn đường này ngược lại khiến ta cảm thấy vô cùng thư thái, nhẹ nhõm.

Khi thuyền vượt qua sông đào, khí ẩm đặc trưng của vùng Giang Nam cũng bắt đầu thấm đẫm trong không khí, có chút dính nhớp.

Tường trắng, mái ngói đen và cả những cây cầu uốn cong cùng dòng nước lượn lờ chảy qua…

Bên tai là tiếng chèo khua "kẽo kẹt", lẫn trong âm điệu mềm mại, dịu dàng của giọng Ngô vùng sông nước.

So với khí lạnh cương mãnh của phương Bắc, nơi này quả thật là hai thế giới khác biệt.

Khi đến được nhà ngoại ở phủ Lâm An, đã là tiết cuối xuân.

Cữu cữu của ta - Lâm Trọng Cảnh, gần năm mươi tuổi, tính tình hiền hậu, y thuật tinh thông.

Ông nhìn ta phong trần mệt mỏi, không hề gặng hỏi gì chuyện ở kinh thành.

Chỉ là ánh mắt tối đi vài phần, cuối cùng thở dài thật sâu:

“Đến rồi là tốt... Ninh nhi, từ nay về sau đây chính là nhà con.”

Cửu mẫu là Vương thị, cũng là người hiền lương, nắm tay ta hỏi han đủ điều, bàn tay bà ấm áp khiến người ta yên lòng.

“Cửu phụ, con muốn học y.”

Ông hơi sững người, chăm chú nhìn ta một lúc lâu rồi mới chậm rãi mở miệng:

“Ninh nhi, học y là chuyện... khô khan, cực khổ, không phải việc một sớm một chiều. Con thật sự quyết tâm sao?”

“Con đã nghĩ kỹ rồi, cửu phụ.” Ta đối diện ánh mắt ông, giọng chắc nịch.

“Ninh nhi không cầu nổi danh thiên hạ, hành y cứu đời. Chỉ mong học được một nghề, hiểu được dược tính, biết cách trị bệnh. Có thể tự chăm sóc bản thân, bảo vệ mình. Với người khác, nếu gặp bệnh tật, ít nhất cũng có thể dốc một phần sức, giảm nỗi khổ bất lực không thuốc chữa.”

Những lời này, đều từ tâm khảm mà ra.

Kiếp trước ta đã tận mắt chứng kiến đứa con của mình nhắm mắt lìa đời…

Nỗi đau xé tim gan đó, chính là thứ đã đẩy ta đứng ở đây hôm nay.

Cửu phụ nhìn ta thật lâu, cuối cùng cũng gật đầu.

“Được. Khó có được đứa trẻ có lòng như vậy. Vậy từ mai, theo ta nhận biết dược liệu, học thuộc Thang đầu ca quyết.”

Bắt tay vào học mới biết bốn chữ "khô khan cực khổ" có sức nặng đến nhường nào.

Chưa sáng đã phải dậy sớm, theo cửu phụ ra vườn thuốc.

Sương mai nặng hạt, vạt váy dưới rất nhanh đã ướt sũng, dính sát vào chân.

Ngồi xổm nhổ cỏ, xới đất, bùn đen len tận kẽ móng tay, rửa cũng chẳng sạch.

Mặt trời vừa lên cao, ánh nắng như thiêu như đốt, làn da cũng bỏng rát khô căng.

Những điều ấy, còn là phần nhẹ nhàng nhất.

Khổ sở hơn là khi quay về phòng, đối mặt với đống y thư dày như có thể đập chết người, xếp đầy án thư.

Nội Kinh, Thương Hàn Tạp Bệnh Luận, Bản Thảo Kinh…

Chữ nghĩa như thiên thư, tên dược khó đọc, khiến đầu óc choáng váng.

Đọc đi đọc lại, chép tới chép lui.

Cửu phụ dạy rất nghiêm.

Lấy nhầm một loại thuốc? Làm lại từ đầu.

Thuộc thiếu một vị thuốc trong ca quyết? Viết phạt mười lần.

Ta thường gục đầu bên ngọn đèn dầu, mắt khô cứng, tay mỏi không nhấc nổi.

Bích Đào luôn bên cạnh ta trong đêm tối, khẽ khàng:

“Tiểu thư, nghỉ ngơi đi... dầu sắp cạn rồi…”

Ta dụi mắt, nhìn đám chữ chi chít trên giấy, cắn răng:

“Sắp rồi, nhớ thêm vài vị thuốc này nữa là có thể ngủ…”

Sự chăm chỉ khắc khổ của ta, cửu phụ đều thấy hết.

Ánh mắt ông nhìn ta, từ dò xét lúc đầu đã chuyển thành thật tâm tán thưởng.

Một lần sau khi kiểm tra khả năng bắt mạch của ta, ông vừa vuốt râu vừa nói với cửu mẫu:

“Ninh nhi, đứa nhỏ này không chỉ có lòng, mà còn hiếm có ở chỗ nhẫn nại. Cứ tiếp tục thế này, tương lai e rằng còn giỏi hơn cả ta.”

Ngoài việc theo cửu phụ học y, ta cũng bắt đầu lui tới Tế Thế Đường.

Cửu phụ ta nhân hậu, gặp bệnh nhân nghèo túng thường giảm nửa tiền khám, thậm chí còn cho thuốc không lấy tiền.

Ta chủ động xin theo, mỗi lần cửu phụ xem bệnh, ta đều ở bên học hỏi.

Giúp bốc thuốc, sắc thuốc, có khi còn vác hòm thuốc đi đến tận nhà mấy người bệnh nặng nằm liệt giường.

Lúc sau, cửu phụ cũng dần để ta thử chẩn trị một số chứng bệnh nhẹ như té ngã, cảm sốt.

Mỗi lần được tự tay thực hiện, tim ta như treo lên tận cổ, sợ chỉ một sơ suất nhỏ cũng gây hại.

Những kinh nghiệm học được từ thực tế, còn quý giá hơn mười phần lý thuyết trong sách vở.

Ngày tháng lặng lẽ trôi đi trong mùi thuốc và hương giấy mực.

Chớp mắt, đã ba năm.

Cuộc sống bận rộn mà an ổn ở Giang Nam đã gột sạch hết khí chất tiểu thư khuê các và sự u uất của ta từ thuở ở kinh thành.

Làn da ngăm nâu vì nắng, dáng người cũng cao lên vài phần.

Bước đi mang theo vẻ điềm đạm của một thầy thuốc.

Một thân váy vải thô, tóc búi đơn giản bằng trâm gỗ, lưng đeo chiếc hòm thuốc mây đã sờn.

Ta xuyên qua các ngõ hẻm, ruộng đồng ở phủ Lâm An, đôi khi còn chèo thuyền nhỏ đến các làng ven sông khám bệnh.

Người trong vùng cũng dần quen mặt, gọi ta là “Tiểu Lâm đại phu”.

Ngày nọ, ta thay cửu phụ đi một chuyến.

Một mình đến trấn Thanh Khê cách thành ba mươi dặm, tái khám cho một lão tú tài bệnh lâu năm.

Giữa đường, khi đi qua rừng trúc rậm rạp, chợt nghe phía trước quan đạo vang lên tiếng la hét, tiếng bò rống dữ dội!

“Tránh ra! Mau tránh ra! Bò điên rồi!”

“Cứu mạng—”

“Con ta! Con của ta—!”

Tim ta chợt thắt lại, chạy thẳng theo hướng âm thanh vang lên.

Cảnh tượng trước mắt rối loạn như một nồi cháo nát.

Một chiếc xe bò chở gỗ lớn bị lật úp, trục xe gãy lìa, gỗ lăn tứ tán đầy đường.

Con bò kéo xe như phát điên, thở phì phì, giãy nảy đạp loạn, dây cương căng đến mức sắp đứt.

Mà giữa đường, cách vài bước có một đứa bé chừng ba bốn tuổi đang ngồi bệt dưới đất, mặt trắng bệch vì sợ, khóc thét trong vô vọng.

Móng bò to bằng miệng bát đã giơ cao, chỉ cần một khắc nữa là sẽ giẫm xuống thân thể đứa bé kia!

Mẫu thân đứa bé, một phụ nhân nhà nông còn trẻ, bị mấy người đàn ông giữ chặt, cố kéo ra sau.

Nàng ta như phát cuồng, gào khóc đến lạc cả giọng:

“Buông ta ra! Con ta—!!”

Con bò điên không ai khống chế nổi, những người khác không dám buông mẫu thân đứa bé ra, nhưng cũng chẳng ai dám lao lên cứu đứa trẻ.


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.