Phù Dung Minh Nguyệt - Đông Chí Hội Lai

Chương 10: Giảng giải trị thủy, trường đèn cầu phúc




Mưa to trút xuống như thác, gió rít sắc bén như dao.

Bùi Việt cầm ô ra khỏi thiền phòng, chàng đứng giữa cơn mưa tầm tã nhìn về phương xa. Mân Sơn Hương bị trận mưa dữ dội này phá hỏng toàn bộ thành quả dẫn lũ thoát nước trước đó. Sông ngòi đều đầy ắp, bùn đất đổ xuống cuồn cuộn, dòng nước đục ngầu mặc sức tràn lan thành một mảnh mênh mang biển lũ.

Chàng đứng lặng một lúc lâu, đến khi Kinh Trập ở bên cạnh khuyên nhủ: “Điện hạ, mưa lớn quá rồi, nên quay vào thôi, kẻo ướt cả giày vớ.”

Bùi Việt lúc này mới hoàn hồn, xoay người trở vào. Chàng trải một tờ giấy trắng lên án thư trong thiền phòng, bắt đầu vẽ lại bản đồ núi sông vùng Mân Sơn Hương.

Lư Cẩn Du lập tức hiểu dụng ý của chàng: “Điện hạ định noi theo cách trị thủy đất Thục của Lý Băng, thuận theo thế nước, tùy địa mà làm để trừ tận gốc họa lũ lụt ư?”

“Trừ tận gốc nạn lũ?” – Đám dân nghe thấy mấy chữ này, tuy thân mình cố giữ bất động, nhưng ánh mắt lại như muốn khoét thủng tờ giấy mỏng manh kia.

“Mẹ ơi… Lý Băng trị thủy đất Thục là chuyện gì ạ?”- Giọng một bé trai vang lên trong thiền phòng, trong trẻo như chuỗi ngọc va nhau, gõ thẳng vào tâm người nghe.

Mẫu thân cậu bé không am hiểu điển cố ấy. Nàng lắc đầu, bàn tay phải xoa nhẹ lên đầu con, đôi mắt ngước sang Bùi Việt.

Không chỉ đôi mắt ấy, tất cả những con mắt trong căn thiền phòng này đều như biết nói, chứa đầy khát vọng học hỏi, đồng loạt dõi theo chàng.

Bùi Việt hơi sững lại, rồi đứng dậy, chậm rãi nói: “Chuyện Lý Băng trị thủy đất Thục, lúc ta học ở…tư thục, tiên sinh từng kể cho ta nghe.”

Giọng chàng như gió thông, tuyết nguyệt, trong trẻo mà điềm đạm, nghe vào tai thật an ổn trầm tĩnh: “Năm thứ ba mươi lăm đời Tần Chiêu Tương Vương, Tần muốn thống nhất lục quốc. Khi ấy có câu: ‘Được Thục thì được Sở, Sở mất thì thiên hạ định.’ Chiêu Tương Vương muốn biến đất Thục thành kho lương quân sự. Nhưng núi Thục hiểm trở, sông Mân treo cao, nước dữ hung hãn, lòng sông lại hẹp, thường xuyên vỡ đê ở quận Quán. Sông Mân bắt nguồn từ núi Mân phía bắc đất Thục, men theo tây bình nguyên mà chảy xuống phía nam; khi nước xông ra cửa núi lại bị núi Ngọc Lũy phía đông chắn lại, thành ra tây thì lụt, đông thì hạn, dân sinh điêu linh. Vì vậy, Chiêu Tương Vương cử Lý Băng làm Thái thú Thục quận, lệnh cho ông trị tận gốc họa thủy sông Mân. Lý Băng muốn chia Mân Giang làm hai, dẫn nước sang phía đông tưới cho bình nguyên, quyết tâm khoan núi Ngọc Lũy…”

Bé trai nghe đến xuất thần, buột miệng hỏi: “Khoan thủng núi Ngọc Lũy? Họ dùng thuốc nổ ạ?”

“Thời Tần chưa có thuốc nổ. Cha con Lý Băng cùng dân chúng trước hết nhóm lửa đốt núi, rồi dội nước lạnh, khiến đá nứt vỡ, thuận tiện cho việc đục mở. Trải qua tám năm gian khổ mới khoan ra được một cửa núi rộng sáu trượng, cao mười hai trượng, dài hai mươi bốn trượng, đặt tên là Bảo Bình Khẩu. Nhưng do địa thế bờ đông Mân Giang còn cao, nước sông vẫn khó chảy vào Bảo Bình Khẩu…”

“Ơ? Vậy phải làm thế nào?” – Dân chúng nghe mà như thể đích thân đứng ở công trình năm xưa, trên mặt đều hiện vẻ lo lắng.

“Cha con Lý Băng lại dẫn người dựng mã tra chặn dòng ở thượng du gần núi Ngọc Lũy. Tức là lấy những giá gỗ ba chân đóng cọc dưới sông, bên trong nhồi đá cuội đầy giỏ tre, xếp thành hàng giữa dòng nước; mặt đón nước buộc thêm thanh gỗ ngang dọc, ngoài phủ chiếu trúc, lại đắp thêm bùn đất, dần dần tạo thành một hòn đảo nhỏ dài, hẹp, giống như miệng cá. ‘Miệng cá’ ấy chia dòng Mân Giang hung hãn thành nội giang và ngoại giang, từ đó nước nội giang mới có thể thuận lợi chảy qua Bảo Bình Khẩu vào đồng bằng Thục.”

“Hay quá!”, “Lý Băng đúng là thánh nhân trị thủy!” – Dân chúng lập tức phấn chấn hẳn lên.

Khóe mắt, đuôi lông mày Bùi Việt đều đọng một nụ cười nhạt: “Trong đó còn nhiều kiến thức để hậu nhân noi theo. Cha con Lý Băng danh vang đất Thục; dân Thục lập miếu tạc tượng, đời đời hương khói không dứt.”

Một thanh niên ngồi gần cửa không nhịn được mở miệng: “Chúc đại nhân cũng lấy được tinh túy trong việc trị thủy của Lý Băng, nghĩ ra biện pháp cứu Mân Sơn Hương của chúng tôi sao?”

Bùi Việt khựng một chút, rồi kiên định đáp: “Đúng.”

Chàng vừa mở lời, tuy chưa nói đến kế sách cụ thể, nhưng dân chúng đã tin chàng mười phần, như thể việc giải quyết tận gốc lũ lụt Mân Sơn Hương đã chắc chắn thành công.

Lão hán ngồi trước mặt Bùi Việt cúi rạp người, đôi mắt ngấn lệ: “Chúc đại nhân, xin người nhất định phải cứu Mân Sơn Hương chúng tôi! Chúng tôi nguyện vì người mà lập miếu tạc tượng, đời đời hương hỏa!”

“Chúc đại nhân, xin hãy cứu chúng tôi!”, “Cứu lấy Mân Sơn Hương!”, “Nguyện lập miếu tạc tượng, đời đời hương hỏa!” – Dân chúng đồng loạt quỳ xuống, vừa khóc vừa cầu khẩn.

Thân là Thái tử Yến Xích, số lần Bùi Việt được người quỳ lạy nhiều không kể xiết, thế nhưng một lạy của hơn chục dân chúng hôm nay lại khiến lòng chàng dâng trào muôn vàn cảm xúc, khó bề lặng xuống.

Bá tánh trông vào quan, thật như trẻ thơ ngước nhìn cha mẹ.

Sau lưng họ, từng giọt mưa rơi lộp bộp xuống nền đất, thấm ướt bụi tro, như đang khẽ hỏi: nhân gian này lắm quanh co, trời chẳng thương xót, người biết phải làm sao?

Con thơ có thể nuôi? Cha mẹ có thể đỡ? Một thân cô độc liệu có gánh nổi gió sương?

Tuân Tử từng nói, nhân tính vốn ác; nhưng nếu không bị bức đến đường cùng, ai lại nỡ bước vào cảnh người ăn thịt người.

Đại đa số chỉ cần có mái che mưa nắng, có manh áo che thân, có thóc gạo để ăn, có thuốc men để chữa bệnh, thì dù đời người là quán trọ, lòng vẫn tìm được lối về. Thân này dẫu nhẹ như cỏ lau vẫn nguyện làm cầu nối, làm thuyền chở người qua bến đò.

Có con dân như thế, sao nỡ để họ chịu khổ chịu nạn; sao đành phủi đi nỗi sầu lo che trước mắt họ?

“Các vị mau đứng dậy, một lạy này ta thật không dám nhận.” – Giọng Bùi Việt hơi nghẹn ngào: “Dòng nước lớn nhỏ chảy qua Mân Sơn Hương đều xuôi về hướng đông ra biển, cách trị sẽ khác với đất Thục. Bao gồm xây hồ chứa, đào sâu mở rộng lòng sông, khơi thông bùn đất, cắt dòng uốn khúc, dẫn nước phân lưu, bồi dưỡng nguồn nước, nối liền mạng lưới thoát lũ liên huyện. Nếu muốn trị tận gốc, phải noi theo cha con Lý Băng, kiên trì năm này qua năm khác. Mà ta được triều đình sai đi các nơi khảo sát thiên tai, định sẵn không thể ở lại Thương quận lâu dài…”

Dân chúng nghe lời này, ánh mắt chất chứa ngàn lời nhưng nghẹn lại trong cổ họng, chẳng thể thốt ra.

“Nhưng Chúc mỗ ở đây xin hứa, trước khi rời Thương quận, ta sẽ giảng giải tường tận phương pháp trị thủy cho Vạn Hương Chính; lại thỉnh bốn huyện Viễn Chung, Vi Phong, Mậu Hoa, Bình Dã đưa các vị huyện chính cùng hiền tài bản địa hiệp lực giám công; đồng thời cố gắng xoay xở kinh phí, bảo đảm việc trị thủy không bị gián đoạn.”

Chàng cúi người một bái, trong mắt long lanh như ánh nắng rải trên sông dài: “Bình ổn nước lũ là tâm nguyện của các vị, cũng là chí hướng của ta. Các vị dậy sớm đốt bếp, dãi nắng dầm mưa, thân tâm kham khổ nhưng ý chí không gì lay nổi. Vì vậy Chúc mỗ tin rằng ngày nào đó tái ngộ, hẳn chúng ta sẽ được nhìn thấy non sông Mân Sơn Hương thay đổi dung nhan.”

“Hay! Chúng tôi tin đại nhân!” – Ánh sáng trong mắt dân chúng rực lên, như muốn nuốt trọn, hòa tan cả người đứng trước mặt.

Gió mạnh lùa tới, chuông gió dưới mái chùa leng keng rung động. Mọi người đưa mắt nhìn sang, nơi sâu trong Phật điện, từng ngọn đèn trường minh đang cháy mãi không tắt, ánh lửa mềm mại mà bền bỉ.

“Chúng ta thắp cho Chúc đại nhân một ngọn đèn trường minh đi.” – Có người lên tiếng đề nghị.

“Đúng đúng, đi nào, thắp cho đại nhân một ngọn đèn!” – Dân chúng rối rít hưởng ứng, bước qua bậc cửa, chạy băng qua màn mưa sang đại điện đối diện.

“Đừng, không cần thiết đâu.” – Bùi Việt còn chưa kịp ngăn, đã vội theo họ bước ra khỏi thiền phòng.

Kinh Trập lập tức che ô đuổi theo. Úy Sở Lăng và Lư Cẩn Du cũng theo sát phía sau.

Chỉ thấy người dân quỳ ngay ngắn trên mặt đất, hai tay chắp trước ngực, đồng thanh cầu nguyện thành kính: “Chúng con thắp đèn dâng Phật, cầu cho Công Bộ Lang trung Chúc Minh Chúc đại nhân bình an cát tường, vô hoạn vô tai, mọi việc thuận lợi, không gì lo lắng.”

Lời cầu nguyện vừa dứt, người dẫn đầu bước lên thắp đèn. Một đốm lửa lập tức bùng lên, uyển chuyển nhẹ nhàng nhảy múa, rực rỡ mà thần thánh.

Bùi Việt khẽ động lòng.

Trong kinh Phật có câu: Người cúng đèn chiếu đời như ánh sáng. Thì ra, mang lại ánh sáng cho muôn dân đâu chỉ là sứ mệnh của bậc quân vương. Chỉ cần giữ một tấm lòng chân thành, ai ai cũng có thể soi sáng thế gian. Đó chính là điều nhà Phật gọi là chúng sinh bình đẳng.

Bùi Việt khẽ vén áo, quỳ thẳng hai gối xuống đất. Mỗi chữ thốt ra từ môi chàng đều như tiếng vàng ngọc ngân vang, dù ngoài kia mưa gió đầy trời, tiếng tụng kinh du dương vẫn nghe rõ ràng: “Ta thắp đèn dâng Phật, nguyện thiên hạ yên bình, bách tính trường an.”

Sau đó, chàng cầm nén hương, châm vào tim đèn. Đóa hồng liên trong khoảnh khắc nở rộ.

Trong đôi mắt trong suốt của Bùi Việt, Úy Sở Lăng thấy một loại thiền ý quên mình. Một dự cảm chẳng lành đột ngột siết chặt lấy tâm nàng.

Điện hạ có tấm lòng từ bi độ thế tuy tốt… nhưng xin đừng thật sự vì thiên hạ mà xá thân hóa Phật…

Nàng nghe đáy lòng khẽ thở dài, rồi tháo trường kiếm bên hông xuống, thản nhiên quỳ trước Phật, ánh mắt sáng rực như lửa, giọng nàng cất cao: “Ta thắp đèn dâng Phật, nguyện cho Yến Xích Hoàng Thái Tử điện hạ Bùi Việt bình an cát tường, vô hoạn vô tai, mọi việc thuận lợi, không gì lo lắng.”

Trong khoảnh khắc ấy, vạn vật đều tĩnh lặng. Bùi Việt kinh ngạc nhìn về sườn mặt nàng, hơi thở dần chậm lại, như trong một đêm tĩnh lặng không gió, chàng bỗng ngước lên thấy bầu trời đầy sao.

Chàng biết Úy Sở Lăng là nữ tử. Từ buổi hôm ấy trước Kim Loan điện, khi nàng bước lên đài cao và nhìn thẳng vào chàng, chàng đã biết — Nàng môi đỏ răng trắng, lỗ tai còn vết đeo hoa tai, vòng cổ đen huyền nơi cần cổ càng là sự che giấu vụng về…

Lồng ngực Bùi Việt phập phồng rất khẽ, toàn thân huyết mạch đều dồn về trái tim, nóng cháy đến mức đau rát.

Chàng hiểu, ngọn đèn ấy đã châm vào trái tim chàng.

Trong chùa Mân Sơn, mọi người vẫn canh cánh lo sợ tờ thư đe dọa tính mạng kia, lúc nào thần kinh cũng căng như đàn, trầm lặng hơn mọi ngày, tựa như Úy Sở Lăng.

Nếu không phải nhận thấy sự bất thường từ nàng, Bùi Việt một lòng lo chuyện trị thủy, suýt nữa quên mất bản thân cũng đang trong vòng nguy hiểm.

Chàng còn nhớ năm ấy ở Đông Cung lần đầu gặp thích khách. Nội thị Lý Thuần Chân lao đến che cho chàng, mũi dao đâm vào hắn, máu tươi phun lên mặt chàng từng giọt. Khi ấy, Chúc Minh đang trú lại Đông Cung chạy chân trần tới ôm chầm lấy chàng, kinh hoảng mà bật khóc.

Đó là lần đầu tiên ông cụ non Chúc Minh rơi lệ trước mặt chàng, cũng là lần cuối cùng trong ký ức.

Bùi Việt sai cung nhân mai táng Lý Thuần Chân dưới gốc mai trong ngự uyển Đông Cung. Chúc Minh khi ấy đứng bên nói: “Điện hạ, nếu người chỉ biết một mực tự giữ mình, cuối cùng mai viên này… chỉ có mai táng thêm nhiều thi cốt trung thần mà thôi.”

Sau đó, Thái phó, Thuận quý phi và phụ hoàng lần lượt tới thăm.

Thái phó dùng lời hiền hòa an ủi chàng một phen. Thuận quý phi đưa cho chàng lá bùa bình an, dặn phải mang theo bên người, rồi nhẹ bước rời đi. Còn phụ hoàng thì giận dữ mắng vị thống lĩnh thị vệ Đông Cung một trận thậm tệ, khi nhìn đến chàng lại chỉ là một ánh mắt sâu xa, không lưu lại nửa câu.

Khi ấy chàng còn trẻ, đêm khó an giấc, trăm mối suy tư. Thế mà nay nhớ lại chỉ như xem hoa rơi trên sân vắng.

Bùi Việt nghiêng người, ghé tai dặn dò Tiểu Mãn tìm cơ hội vẽ lại từ trong ra ngoài hình dạng mộc khôi lỗi, rồi gửi bản vẽ về cho Chúc Minh. Sau đó chàng mới mở bức mật thư tám trăm dặm cấp tốc mà phụ hoàng gửi tới.

Chỉ thấy trên trang giấy có tám chữ mạnh mẽ như rồng bay phượng múa: Gian nan khốn khó, ngọc mài càng sáng.


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.
📛 Nhấn để mua thẻ chặn quảng cáo
📛 Mua Chặn Quảng Cáo
Gói chặn quảng cáo
Giá: 19.000 VNĐ
Gói chặn tất cả quảng cáo trên trang trong 1 tháng
Gói chặn quảng cáo
Giá: 38.000 VNĐ
Gói chặn tất cả quảng cáo trên trang trong 2 tháng
Gói chặn quảng cáo
Giá: 149.000 VNĐ
Gói chặn tất cả quảng cáo trên trang trong 6 tháng