Hàn Chu Độ - Yến Thức Y

Chương 56




56. Gặp nạn

Xuất phát từ Khánh Dương, Thẩm Diệu Chu cải trang thành thiếu niên, mang theo hộ vệ Liễu Thất cùng dọc theo quan lộ mà thúc ngựa tiến về Đại Đồng.

Vừa ra khỏi địa giới Ninh Châu, trời bỗng đổ tuyết. Nàng đội tuyết đi tiếp một đoạn, trên đường liên tục gặp không ít lưu dân tị nạn, ai nấy đều dắt díu gia đình từ phương Bắc chạy xuống phía Nam.

Sau giờ Ngọ, tuyết rơi càng lúc càng dày, gió lạnh cuốn theo những hạt tuyết đập vào mặt khiến người ta không thể mở nổi mắt. Thẩm Diệu Chu ghì cương, gọi Liễu Thất cùng xuống ngựa, sau đó hai người cùng vào một quán trà ven đường uống ngụm canh nóng, nghỉ chân một lát rồi mới tiếp tục lên đường.

Lán tre dựng tạm bợ, canh dê trong nồi lớn sôi sùng sục, khói trắng bốc lên nghi ngút. Thẩm Diệu Chu uống một bát canh, lại ăn thêm nửa cái bánh tiêu dầu. Vỏ bánh nướng giòn rụm, bên trên phết một lớp dầu hành và mè trắng, ăn cùng canh dê được thêm hai giọt dấm, nuốt xuống bụng khiến người rịn chút mồ hôi, tay chân ấm áp trở lại.

Chủ quán là một ông lão đã có tuổi, thấy tướng mạo Thẩm Diệu Chu thanh tú trắng trẻo, không giống thương nhân phong trần mà giống một tiểu công tử nhà giàu đang đi du ngoạn hơn, liền hỏi: “Tuyết rơi dày như thế, tiểu công tử định đi lên phía Bắc sao?”

Thẩm Diệu Chu mỉm cười, bên khóe môi hiện lên lúm đồng tiền nhạt: “Đúng vậy ạ.”

Ông lão không khỏi lo lắng: “Hai ngày nay phương Bắc đang bị giặc giã quấy nhiễu dữ lắm, xem chừng sắp đánh vào quan ải rồi, trên quan lộ toàn là lưu dân chạy nạn về phía Nam, sao tiểu công tử lại đi ngược lên Bắc? Huống hồ tuyết lớn thế này, cho dù là huyện Hưng Đức gần nhất cũng cách đây gần trăm dặm, dù có đi không nghỉ ngơi thì chắc cũng phải mai mới tới. Phía trước toàn đất hoang, trời tối thì nguy hiểm lắm.”

Nam nhân trung niên ngồi bàn bên cạnh đang sùm sụp húp bát mì, nghe vậy cũng đặt bát xuống, tiện tay quẹt chỗ dầu bên mép, lớn giọng nói: “Nhóc con, lão chủ quán nói đúng đấy. Vùng này vốn có không ít sơn tặc, gần cuối năm nên hoành hành rất dữ dội, nếu gặp phải chúng thì một tiểu công tử như cậu làm sao mà chống đỡ nổi? Ngoài đường đọng tuyết trơn trượt, lúc đó muốn chạy cũng chạy chẳng thoát. Chi bằng vào thành tìm quán trọ nghỉ ngơi, đợi tuyết tan rồi đi cũng chưa muộn!”

Lời họ nói đều có lý, nhưng Thẩm Diệu Chu lại lo mình trì hoãn trên đường quá lâu, lỡ khi đến được Đại Đồng thì Vệ Lẫm đã khởi hành về kinh rồi thì sao? Họ sẽ lỡ nhau mất. Vả lại, nàng có võ nghệ phòng thân, Liễu Thất cũng là tay thiện chiến, lũ thổ phỉ tầm thường sẽ không làm khó được nàng.

Nghĩ đoạn, nàng chắp tay, tươi cười nói: “Đa tạ hai vị! Đại Chu ta còn có hiểm ải Thiên Đầu Quan, chắc chắn Ngõa Lạt vẫn chưa đánh vào được đâu. Dù sao ta cũng có hộ vệ đi cùng, cứ thong thả đi về hướng Hưng Đức là được.”

Thanh toán xong, nàng mau chóng đội nón tre, xoay người lên ngựa, cùng Liễu Thất dọc theo quan lộ hướng Bắc mà đi.

Đi tiếp được một đoạn, quả nhiên hai bên đường dần biến thành rừng núi và đất hoang. Đến tối, tuyết vẫn không giảm bớt, lớp tuyết đọng trên đường đã ngập qua vó ngựa. Trời hoàn toàn tối đen, Thẩm Diệu Chu lần theo ký ức, tìm thấy một trạm dịch bỏ hoang mà nàng từng thấy lúc lên đường đi Khánh Dương.

Liễu Thất dựng lò nhóm lửa, cho ngựa ăn, hai người trú tạm trong trạm dịch.

Nơi này tuy cũ nát, nhưng may mắn là cả đêm không có chuyện gì xảy ra.

***

Chiều tối hôm sau, Thẩm Diệu Chu và Liễu Thất đến phía ngoài thành Hưng Đức, vừa lúc kịp vào thành trước giờ Dậu, sau đó tìm tạm một quán trọ nghỉ lại.

Quán trọ không lớn, nhưng được dọn dẹp rất sạch sẽ. Trong quán không có tiểu nhị chạy bàn, chỉ có một cặp vợ chồng trẻ tuổi ngoài hai mươi tự mình lo liệu tất cả mọi thứ. Thấy hai người Thẩm Diệu Chu đến, chủ quán liền đon đả mang nước và canh nóng lên, lại nhận lấy nón tre và áo choàng lông cáo của bọn họ, quét sạch tuyết đọng rồi treo bên lò lửa để sưởi ấm.

Bà chủ quán có vẻ ngoài bình thường nhưng làm việc cực kỳ nhanh nhẹn, chẳng mấy chốc đã xào xong vài món nóng bưng lên, nhiệt tình mời chào: “Thức ăn tới rồi đây! Mời hai vị khách quan đây nếm thử tay nghề của quán chúng ta. Món củ cải muối giấm này là công thức gia truyền nhà ta, ai ăn xong cũng khen. Hôm nay ta không tính tiền, xem như chút gia vị để hai vị ăn kèm cơm!”

Dân phong phương Bắc khoáng đạt, phần lớn nữ nhân ở đây đều vô cùng hào phóng cởi mở, rất dễ khiến người ta nảy sinh thiện cảm. Thẩm Diệu Chu nhận lấy củ cải, mỉm cười cảm ơn bà chủ.

Hai người dùng bữa xong, lại uống bát canh nóng, cuối cùng bụng dạ cũng ấm lên. Thẩm Diệu Chu dặn Liễu Thất đi tuần tra một vòng quanh quán, kiểm tra ngựa xong xuôi rồi mới lên lầu nghỉ ngơi.

Sau khi tắm rửa qua loa, nàng lấy y phục sạch từ trong tay nải ra thay, rồi lăn mình vào trong chăn đệm khô ráo mềm mại. Tuy nhiên, nàng trằn trọc được một lúc mà vẫn không thấy buồn ngủ.

Bên ngoài gió rít liên hồi, cuốn theo hạt tuyết đập vào cửa sổ ầm ầm. Ngọn nến trên bàn le lói nhảy nhót, hắt ra một quầng sáng vàng vọt trên trần nhà. Nàng nhìn l*n đ*nh màn tối mờ, không nhịn được mà lại nhớ tới Vệ Lẫm.

Nàng không nhớ rõ lúc đâm đao về phía hắn, liệu mình có từng nghĩ rằng tên điên đó sẽ không tránh hay không. Khi ấy nàng thực sự đã giận đến phát điên, đầu óc chỉ có một khoảng trống rỗng. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại cảnh tượng ngày hôm ấy, lòng nàng lại không kìm được nỗi chua xót.

Một đao đâm vào giữa ngực như thế, đau biết chừng nào.

Đồ ngốc.

Không biết giờ vết thương của hắn ra sao rồi…

Thẩm Diệu Chu buồn bực trở mình, nhớ lại khoảnh khắc ngay dưới ánh lửa bập bùng, Vệ Lẫm đã nhẹ nhàng lau đi vết máu trên má nàng, còn nói: “Nàng ở đây, sao ta có thể không đến?, cũng nhớ đến lúc hắn dùng đôi mắt đen láy nhìn nàng, khàn giọng bảo: “Đừng đi”.

Nhưng rốt cuộc nàng vẫn đi.

Sống mũi bỗng cay cay, Thẩm Diệu Chu kéo chăn trùm kín mặt, cố gắng đè những suy nghĩ hỗn loạn này xuống. Không biết đã qua bao lâu, cuối cùng nàng cũng chìm vào giấc ngủ mê mệt.

Giấc ngủ này cũng không được yên ổn, trong mơ đầy rẫy những âm thanh hỗn tạp chói tai, xen lẫn tiếng gió ẩn hiện cùng tiếng vó ngựa, thậm chí lại vang lên càng lúc càng rõ, nghe mà thắt cả tim.

Thẩm Diệu Chu giật mình, đột ngột tỉnh giấc.

Nàng không nằm mơ!

Bên ngoài thực sự vang lên tiếng hô hoán giết chóc, tiếng ngựa hí vang, và cả tiếng kêu khóc thảm thiết. Chẳng mấy chốc, ngoài cửa đã sáng rực ánh lửa, xuyên qua giấy dán cửa sổ, soi sáng một khoảng nhỏ trước giường.

Là ánh lửa!

Thẩm Diệu Chu kinh hãi, lập tức rút ngọc đao dưới gối nắm chặt trong tay, lặng lẽ xuống giường. Khi nàng đang định đến bên cửa sổ xem xét tình hình thì Liễu Thất đã từ phòng bên cạnh lao tới, gấp gáp đập cửa, hoảng hốt nói: “Quận chúa, xảy ra chuyện rồi, người Ngõa Lạt đánh đến đây rồi!”

Hưng Đức không phải thành trấn biên giới, giữa nó và lãnh thổ Ngõa Lạt còn có bao nhiêu quân bảo che chắn, sao người Ngõa Lạt có thể đánh vào mà không hề có dấu hiệu báo trước như thế này? Chẳng lẽ Thiên Đầu Quan đã thất thủ rồi sao?

Thẩm Diệu Chu không kịp suy nghĩ kỹ, vội vàng chỉnh đốn y phục, cùng Liễu Thất xuống lầu đánh thức những người khác trong quán trọ dậy để chuẩn bị.

Tiếng giết chóc ngoài phố càng lúc càng chói tai, những người đang ngủ say lần lượt bị đánh thức, khoác áo tụ tập dưới đại sảnh tầng một. Nghe tin người Ngõa Lạt thừa cơ giết vào thành, ai nấy đều kinh sợ, nhìn những đốm lửa loang lổ gần xa mà mặt mày đầy vẻ hoang mang.

“Không phải phía trước còn có Thiên Đầu Quan sao? Làm sao mà lũ giặc phương Bắc lại đến đây được?”

“Chẳng lẽ bọn chúng định đồ thành ư…”

“Đồ thành?! Phu nhân của ta vừa sinh con, còn đang đợi ta về ăn Tết nữa mà!”

“Mẹ kiếp, quan quân triều đình nuôi làm gì thế hả! Năm nào cũng tốn bao nhiêu bạc, vậy mà năm nào cũng để lũ giặc này đến làm hại chúng ta!”

“Chết tiệt! Hôm nay lũ giặc đó mà dám xông vào, cùng lắm lão tử liều mạng với chúng là được chứ gì!”

Thẩm Diệu Chu gạt đám đông, tìm đến chỗ chưởng quầy: “Chưởng quầy, quán trọ này có hầm trú hay nơi nào tương tự để ẩn nấp không? Cho mọi người vào đó lánh tạm đi.”

Lúc này chưởng quầy đã hoảng loạn, nói không nên lời: “Có… có có, nhưng căn hầm đó rất nhỏ, e là… e là…”

Bà chủ quán nhướng mày, ngắt lời ông: “Sợ cái gì? Nhỏ mấy cũng đủ trốn một lúc, còn hơn để lũ giặc coi chúng ta như rau cỏ mà chém! Hầm trú ở hậu viện, mau đưa mọi người qua đó!”

Thẩm Diệu Chu gật đầu, xoay người lớn giọng nói với mọi người: “Mọi người đừng hoảng, mỗi người tự tìm món đồ nào đó vừa tay để phòng thân đi. Đóng chặt cửa chính, mở tung cửa sổ và cửa ngách hậu viện ra, vứt hết những món quý giá đi. Khi quân Ngõa Lạt xông vào, hãy để chúng tưởng người trong quán đều đã hoảng loạn chạy thoát thân. Chúng mải cướp bóc, hẳn là sẽ không lục soát kỹ đâu!”

Nghe nàng nói như vậy, mọi người đều đã bình tĩnh lại không ít, có người hưởng ứng: “Đúng đúng, vị tiểu công tử này nói có lý!”

Thế là mấy nam tử có mặt đều góp sức đóng chặt cửa lớn, rồi theo chưởng quầy chạy thẳng ra hậu viện.

Chưởng quầy nhấc nắp gỗ hầm trú lên, gọi mọi người mau chóng nhảy xuống. Nhưng ngay khi người thứ hai vừa xuống, thì tiếng binh khí đâm chém từ bên kia bức tường đã vọng lại, kèm theo cả tiếng kêu thảm thiết. Gió lạnh cuốn qua, mùi máu tanh nồng nặc trộn lẫn mùi gỗ cháy xộc thẳng vào mũi, đậm đặc đến mức khiến người ta muốn nôn mửa.

Quân Ngõa Lạt đã giết tới đây rồi!

Một tiếng “rầm” vang dội xé toạc màng nghĩ, trong nháy mắt, năm sáu tên lính Ngõa Lạt đã hung tợn vung loan đao chém bay cửa lớn, sừng cổ xông vào. Chúng chẳng nói lời nào, thấy người là chém, ánh mắt tên nào tên nấy đều đỏ ngầu như hổ đói lao vào bầy cừu.

Trong sân lập tức vỡ trận, những người chưa kịp trốn vào hầm trú chạy tán loạn, tiếng khóc thét vang lên chói tai. Thẩm Diệu Chu và Liễu Thất lập tức lao vào quần thảo với mấy tên lính Ngõa Lạt, nhưng dù có võ nghệ thì họ cũng không thể cứu hết ngần ấy người.

“Á!”

Bà chủ quán vừa chạy được một bước thì vấp phải thứ gì đó, chỉ kịp hét lên một tiếng rồi ngã sụp xuống đất. Một tên lính Ngõa Lạt giơ đao định chém xuống đầu bà, nhưng vừa lúc Thẩm Diệu Chu nghe tiếng kêu kinh hãi, lập tức vung tay ném ra hai mũi kim ô đầu, ngay sau đó xoay người nhảy vọt lên, đá mạnh vào hông tên lính kia. Gã man di bị đá phải loạng choạng lùi lại hai bước, ngọc đao nhân đà lướt qua cổ gã, một tia sáng sắc lạnh lóe lên, tức thì máu đỏ tươi b*n r* như suối.

Tên lính Ngõa Lạt ôm cổ phát ra tiếng khùng khục rồi ngã ngửa ra đất. Thẩm Diệu Chu không kịp lau vết máu bắn trên má, cúi người đỡ bà chủ quán dậy, gấp gáp nói: “Mau trốn vào hầm trú đi!”

Liễu Thất chém gục hai tên lính Ngõa Lạt, lao đến chắn trước mặt Thẩm Diệu Chu: “Quận chúa, người ra phía sau lánh tạm đi, mấy tên này cứ để ta lo!”

Chưa đợi Thẩm Diệu Chu kịp trả lời, bỗng có một luồng sáng sắc lạnh từ xa lao tới, mang theo tiếng mũi tên xé gió rít lên nhọn hoắt. Thẩm Diệu Chu nghiêng người né tránh, thuận tay bắt lấy mũi tên đang bắn về phía mình, lúc đang định ném ngược mũi tên sắt trở lại, khóe mắt nàng vô tình lướt qua phía đuôi tên, tức thì không khỏi sững người.

Đây là đuôi tên vòng sắt vảy cá.

Cữu cữu của nàng từng nói, đây là loại tên mà chỉ có đội tiên phong tinh nhuệ của Ngõa Lạt mới dùng.

Nhưng không phải Trần Lệnh Diên đã bắt gặp quân tiên phong Ngõa Lạt ở Ninh Châu rồi hay sao? Sao đột nhiên lại xuất hiện quấy nhiễu thành Hưng Đức cách đó hàng trăm dặm thế này? Rõ ràng nơi này không hề trù phú bằng Ninh Châu kia mà.

Trong chớp mắt, một ý nghĩ lóe qua, khiến sắc mặt Thẩm Diệu Chu lập tức biến đổi, tim đập thình thịch.

Đêm nay, việc quân Ngõa Lạt kéo đến đây quá sức kỳ lạ, cả lối hành sự của chúng cũng khác hẳn mọi khi. Trước đây Ngõa Lạt cướp bóc biên cương là vì của cải và nữ nhân, nhưng đêm nay, rõ ràng chúng chỉ đến để giết người.

Thay vì nói đây là binh lính đi cướp bóc, chi bằng nói chúng muốn nhanh chóng kiểm soát cả tòa thành, không để phân nửa tin tức lọt ra ngoài thì đúng hơn.

Huyện Hưng Đức là một thành nhỏ, dân cư không đông, nhưng có vị trí cực kỳ quan trọng. Phía Bắc chính là Thiên Đầu Quan hiểm trở, dễ thủ khó công, chủ lực Ngõa Lạt tuyệt đối không thể dễ dàng vượt qua.

Nhưng nếu một nhóm nhỏ tiên phong tinh nhuệ dùng kế dương đông kích tây, giả vờ đến Ninh Châu quấy nhiễu, nhưng thực chất là đi đường vòng để đến Hưng Đức, đánh bất ngờ từ bên trong, vậy thì sẽ tạo điều kiện cho việc phối hợp với chủ lực ngoài quan ải, dễ dàng phá vỡ Thiên Đầu Quan!

Mà một khi Thiên Đầu Quan bị phá, thiết kỵ Ngõa Lạt có thể bỏ qua phòng tuyến của các trọng trấn như Đại Đồng hay Tuyên Phủ để tiến thẳng đến kinh thành như đi trên đất bằng.

Nghĩ thông suốt điểm này rồi, Thẩm Diệu Chu lập tức toát mồ hôi lạnh, vội vàng đưa mũi tên cho Liễu Thất, nói nhanh: “Hẳn là người Ngõa Lạt đang định đánh kẹp Thiên Đầu Quan từ trong ra ngoài! Ta sẽ ở lại cầm chân mấy tên trong sân, ngươi hãy thừa cơ lẻn ra khỏi thành, cầm theo mũi tên này báo tin cho thủ quân ở Thiên Đầu Quan, bảo họ cảnh giác, nhanh lên!”

Liễu Thất không chút do dự từ chối: “Không được! Quận chúa, ta là gia tướng của phủ Công chúa, dù trời có sập xuống thì ta cũng phải bảo vệ sự an toàn của người trước! Lũ giặc Ngõa Lạt hung tàn hiếu sát như thế, ta không thể để người lại đây một mình được!”

Trong lúc nói chuyện, Thẩm Diệu Chu lại gạt đi hai mũi tên lông vũ bắn tới, sốt sắng quát lại: “Nếu Ngõa Lạt phá được Thiên Đầu Quan, hậu quả sẽ khôn lường! Ta tự có cách bảo vệ mình, không còn thời gian nữa, ngươi mau đi đi! Đi mau!”

Liễu Thất nghiến răng, không chịu cử động: “Quận chúa!”

Thẩm Diệu Chu đưa tay lau vết máu trên mặt, ánh lửa rực cháy chiếu sáng đôi mắt hạnh trong veo: “Người bước ra từ phủ Trấn Quốc Trưởng Công chúa, ai nấy đều mang khí thế phong cốt của mẫu thân ta. An nguy của một mình ta là nhỏ, tính mạng của hàng vạn vạn tướng sĩ trong dân chúng mới là lớn. Liễu Thất, ta tin ngươi biết mình nên làm thế nào.”

Mắt Liễu Thất cay xè, cuối cùng cũng hạ quyết tâm, chắp tay với nàng, trầm giọng nói: “Quận chúa bảo trọng”, rồi lui về phía sau.

Thẩm Diệu Chu gạt loan đao của một tên lính Ngõa Lạt đang đánh tới, ngoảnh đầu nhìn hắn, khóe môi hơi nhếch lên, tươi cười đáp: “Biết rồi! Ngươi cũng bảo trọng, nhất định phải sống sót trở về, ta còn chưa được uống rượu mừng của ngươi đâu đấy!”

Liễu Thất đáp một tiếng, thừa lúc hỗn loạn mà leo qua tường viện, nhanh chóng ẩn thân vào bóng đêm.

Mấy tên lính Ngõa Lạt xông vào đầu tiên nhanh chóng bị giết sạch. Nhân cơ hội đó, những người còn sống trong sân mau chóng dìu nhau leo xuống hầm.

Thẩm Diệu Chu giữ ván gỗ, giúp đỡ mọi người lần lượt chui vào. Đến khi chỉ còn lại mình nàng, bà chủ quán từ bên dưới định đưa tay kéo nàng, nhưng Thẩm Diệu Chu chỉ trầm giọng nói: “Trốn kỹ vào, đừng tùy tiện ra ngoài!”.

Nói đoạn, nàng định đóng nắp hầm lại.

Bà chủ quán sốt sắng nắm lấy ống tay áo nàng: “Đồ ngốc, nghe lời ta, đừng có liều mạng với bọn giặc, mau vào đây!”

Chưởng quầy và những người khác cũng thi nhau tiếp lời: “Đúng thế, bên trong vẫn còn chỗ mà, tiểu công tử mau vào đi!”

Thẩm Diệu Chu lắc đầu, thấp giọng nói: “Ta còn việc quan trọng phải làm, mọi người bảo trọng.”

Nói xong nàng đóng tấm ván lại, đứng dậy.

Đã có vài tên Ngõa Lạt chạy về gọi viện binh. Nàng ở đây gây náo động càng lớn, vậy thì càng có thể thu hút được sự chú ý của đám Ngõa Lạt, mà như vậy thì Liễu Thất sẽ càng dễ né tránh tai mắt để trốn ra ngoài thành báo tin.

Nàng không hiểu việc hành quân đánh trận, càng không biết suy đoán của mình đúng hay sai, nhưng nàng biết, chỉ cần có một phần vạn khả năng, nàng cũng sẽ tuyệt đối không thể khoanh tay đứng nhìn.

Phía sau nàng là non sông mà mẫu thân và hàng vạn tướng sĩ đã dùng mạng sống để bảo vệ, là quê cha đất tổ nơi nàng lớn lên, cũng là gia sản tính mạng của vô số lê dân bách tính.

Nàng là Quận chúa do Tiên đế sắc phong, hưởng lộc của vạn dân thì có trách nhiệm hộ vệ an nguy của vạn dân.

Dù là châu chấu đá xe, không biết lượng sức mình, nhưng chỉ cần có thể kéo dài được một khắc, vậy thì nàng cũng sẽ chiến đấu đến cùng.

Thẩm Diệu Chu lau sạch vết máu trên ngọc đao, cổ tay xoay chuyển, lưỡi đao phản chiếu đôi mắt hạnh trong sáng kiên nghị của nàng.

Gió bấc như dao, tuyết lớn tạt mạnh, nàng bước qua những thi thể nằm ngổn ngang trên mặt đất để ra ngoài.


Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.