47. Vết nứt
Bên trong xe ngựa rơi vào một mảnh tĩnh lặng chết chóc, chỉ còn lại tiếng gió bấc gào thét bên ngoài.
Vệ Lẫm nhất thời không lên tiếng.
Trước đó, hắn để Thẩm Chiêu một mình đến Đại Đồng chính là vì không muốn kéo nàng vào vũng bùn này. Hắn hiểu rõ hơn ai hết, nếu nàng đã hỏi như vậy thì nghĩa là đã hạ quyết tâm muốn đối đầu với Tiêu Húc. Nhưng dù nàng có ý định gì, hắn tuyệt đối không thể để Tiêu Húc xảy ra chuyện.
Hắn có mưu đồ riêng, nhưng con đường phía trước gian nan như bước đi trên vách đá dựng đứng, hắn không có nắm chắc mười mươi, nên trước khi thành công, hắn không thể nói thẳng với nàng.
Vệ Lẫm im lặng hồi lâu, hàng mi dài hơi rũ xuống, che đi ánh mắt tối tăm bất định: “Sao nàng lại hỏi chuyện này?”
“Chàng cứ trả lời là được.” Nàng ngước mắt nhìn hắn, mười ngón tay thanh mảnh hơi dùng lực ấn lên chiếc bàn nhỏ, giọng điệu đầy cố chấp.
Vệ Lẫm hạ quyết tâm, không chần chừ nữa: “Sẽ không.”
Thẩm Diệu Chu vẫn nhìn hắn không chớp mắt, một lúc lâu sau mới thấp giọng nói: “Vệ Lẫm, chàng tuyệt đối đừng lừa ta.”
Ánh mắt nàng trong trẻo, phản chiếu ánh nến lay động nhè nhẹ, khiến hắn nảy sinh một cảm giác chột dạ không dám nhìn thẳng.
Bàn tay đặt trên đầu gối hơi siết chặt, hắn đáp: “Không lừa nàng.”
Nghe Vệ Lẫm nói như thế, cuối cùng Thẩm Diệu Chu cũng thở phào nhẹ nhõm, khóe môi hơi cong lên: “Vậy thì tốt.”
Trong lúc trò chuyện, cỗ xe ngựa đã lọc cọc lăn bánh đến trước ngõ Thảo Mạo. Trường Đình ghì dây cương dừng ngựa, xoay người ra sau xe bê bệ gác chân đến rồi nói vọng vào bên trong: “Chủ tử, Quận chúa, đã đến nơi rồi.”
Vệ Lẫm giơ tay chỉnh lại dây buộc cổ áo cho nàng, giúp nàng đội mũ trùm đầu, rồi đứng dậy đẩy cửa nhỏ đưa nàng xuống xe. Không biết bên ngoài đã đổ tuyết từ lúc nào, từng hạt trắng vụn li ti rơi rụng, phủ lên nền đất một lớp trắng mờ ảo như rắc muối.
Thẩm Diệu Chu nhảy xuống từ càng xe, ngoảnh lại nhìn hắn, nở nụ cười rạng rỡ: “Ta đi trước đây, chàng mau về băng bó vết thương đi, vạn sự nhớ cẩn thận.”
Vệ Lẫm khẽ đáp lại một tiếng.
Hắn đứng đó, yên lặng nhìn bóng dáng nàng rẽ vào con ngõ nhỏ.
Ánh đèn lồng vàng vọt từng chút một kéo dài cái bóng của nàng, sau đó lại bị ngăn cách bởi làn tuyết rơi lả tả, hư ảo như một giấc mộng.
***
Thẩm Diệu Chu nhanh chóng băng qua hai con phố, trở về tiểu viện ở hậu đường ngôi miếu Thành Hoàng. Gia tướng ở lại canh giữ đã đợi từ lâu, thấy nàng xuất hiện liền vội vàng tiến lên hành lễ: “Quận chúa.”
Nàng gật đầu, ngước mắt lên thì thấy trong viện tối đen như mực, liền biết ngay là a huynh và Liễu Thất vẫn chưa về.
Không biết phía bên họ có thuận lợi hay không, cũng không biết cha có thực sự bị nhốt trong tòa biệt uyển đó hay không.
Trong lòng nàng thấp thỏm.
Thẩm Diệu Chu định thần lại, hỏi: “Cơm nước, thuốc trị thương, vải thưa với nước nóng, tất cả đều đã chuẩn bị xong rồi chứ? Đã mời đại phu tới chưa?”
Gia tướng vội đáp: “Quận chúa yên tâm, những thứ người dặn, thuộc hạ đã chuẩn bị thỏa đáng, đại phu đã đợi ở gian phòng phía Đông.”
Nghe vậy, Thẩm Diệu Chu mới an tâm được đôi chút. Nàng vào phòng thay quần áo, đang định đi xem còn cần chuẩn bị gì nữa không thì bỗng nghe thấy tiếng bước chân hỗn loạn ngoài cổng vọng vào.
Tim nàng thắt lại, vội nâng váy chạy ra cổng.
Vừa ra đến cửa, quả nhiên đã nhìn thấy bóng dáng Thẩm Chiêu. Dường như trên lưng hắn đang cõng thứ gì đó, Liễu Thất và những người khác cẩn thận dìu hai bên, cả nhóm vội vã di chuyển vào trong viện.
“Cẩn thận! Nhẹ tay thôi!”
“Mau gọi người đến! Mau lên!”
“A huynh!” Thẩm Diệu Chu kêu lên một tiếng, lao thẳng đến trước mặt Thẩm Chiêu.
Trên lưng hắn đang cõng một người được bọc trong chiếc áo bào bông. Lớp bông vải bên ngoài đã đã thấm đẫm máu tươi, mùi rỉ sắt nồng nặc xộc thẳng vào mũi.
Nàng sững sờ, tim đập thình thịch, thậm chí còn không dám nhìn người bên trong lớp áo, chỉ hoảng hốt nhìn Thẩm Chiêu, run giọng hỏi: “Có phải… có phải là cha không?”
Thẩm Chiêu mím chặt môi, gật đầu một cái. Thấy sắc mặt hắn cực kỳ nghiêm trọng, Thẩm Diệu Chu liền biết ngay tình hình đang rất nguy kịch. Đôi chân nàng bất giác run run, thân hình lảo đảo.
Liễu Thất vội vàng đỡ lấy nàng, thấp giọng nói: “Phò mã gia vẫn còn sống, chỉ là… bị thương ngoài da hơi nặng, Quận chúa đừng quá lo lắng.”
Thẩm Diệu Chu khàn giọng đáp một tiếng, ra hiệu cho mọi người mau chóng đưa người vào phòng rồi đặt lên giường.
Người trong lớp áo bông râu tóc rối bời, máu đóng thành từng mảng thẫm màu trên mái tóc, rũ xuống che khuất cả gương mặt. Nàng nghiến chặt răng, đôi tay run rẩy nhẹ nhàng vén tóc sang hai bên, để lộ khuôn mặt gầy gò tiều tụy.
Vui mừng, xót xa, kinh hoàng… đủ thứ loại cảm xúc cuồn cuộn trào dâng trong lòng.
Trái tim Thẩm Diệu Chu đau đớn thắt lại, hốc mắt nóng lên, nức nở gọi: “Cha, là Ban Ban đây, cha nhìn Ban Ban đi.”
Khuôn mặt Thẩm Kính Hồ trắng bệch không còn giọt máu, hai mắt nhắm nghiền, giống như không còn chút tri giác nào.
Hai mắt Thẩm Chiêu cũng đỏ hoe, giơ tay lau nước mắt cho nàng, nghiến răng nói: “Ban Ban đừng khóc, muội ra ngoài nghỉ ngơi một lát, để ta lau người rồi bôi thuốc cho nghĩa phụ đã.”
Nói rồi, hắn đưa mắt ra hiệu cho Liễu Thất đưa nàng ra ngoài.
Liễu Thất hiểu ý, cũng khuyên nhủ: “Quận chúa, việc chữa trị cho Phò mã là quan trọng nhất, người ở lại đây cũng không tiện.”
Thẩm Diệu Chu gật đầu định đồng ý, nhưng đột nhiên lại linh tính thấy có gì đó không ổn, liền muốn tiến lên xem kỹ vết thương của Thẩm Kính Hồ.
Thẩm Chiêu vội đưa tay cản lại: “Ban Ban!”
Bước chân nàng khựng lại, từ từ ngẩng đầu lên, đôi mắt hạnh bướng bỉnh đối diện với Thẩm Chiêu, nước mắt không kìm được mà rơi xuống lã chã. Thẩm Chiêu thấy không giấu được nữa, đành quay mặt đi, nghiến răng thở hắt ra một hơi, chậm rãi vén chiếc áo bông phía sau ra.
Thẩm Diệu Chu nhìn qua.
Khoảnh khắc nhìn rõ tình trạng trước mắt, đầu óc nàng bỗng nổ tung một tiếng, mặt cắt không còn giọt máu, cả người lảo đảo chực ngã nhào xuống đất.
Thẩm Chiêu vội đỡ lấy nàng, xót xa gọi: “Ban Ban…”
Thẩm Diệu Chu hoảng hốt nhìn người trên giường, đôi mắt hạnh dần tối đi, môi mấp máy hồi lâu nhưng không thể phát ra nửa âm tiết.
Toàn thân cha nàng đầy máu, gân tay phải đã bị cắt đứt hoàn toàn, hai ống chân cũng bị bẻ gãy, xương trắng hếu đâm xuyên qua da thịt, lộ ra giữa một vùng đỏ lòm rợn người.
Màu máu chói mắt khiến đầu óc nàng đau đến mức choáng váng.
Nàng nhớ lại ngày Thẩm Kính Hồ lên đường tới Đại Đồng, khi ấy trời cũng đổ tuyết như thế này. Ông vừa thắt chặt mũ rộng vành, vừa mỉm cười dặn dò: “Cha đi chuyến này có lẽ hơi lâu, việc nhà phải trông cậy hết vào Ban Ban rồi. Làm gì cũng phải cẩn thận, đừng để bị lạnh, cũng đừng ăn nhiều đồ lạnh quá. Đợi cha trở về sẽ mang quà ngon vật lạ về cho con.”
Lúc đó nàng còn hờn dỗi, lý do là vì muốn đi cùng nhưng ông lại không chịu.
Cha là vậy, mẹ cũng thế, rõ ràng là biết nguy hiểm nhưng vẫn cứ làm, có thể vì đại nghĩa mà bỏ mặc nàng một mình, khiến nàng đến cả hờn trách cũng không thể bày tỏ ra ngoài.
Nghe những lời dặn đó, nàng chỉ bĩu môi: “Con có phải trẻ con đâu.”
Thẩm Kính Hồ thấy nàng không vui thì giơ tay nhéo mũi nàng, cười dỗ dành: “Dù Ban Ban có lớn thế nào thì vẫn là tiểu cô nương của cha. Yên tâm, cha nhất định bình an trở về ăn Tết với con. Năm nay ta cũng sẽ bảo A Chiêu về kinh sớm, để cả nhà ta được đoàn viên.”
Thẩm Diệu Chu quay mặt đi chỗ khác, “hừ” nhẹ: “Cha hứa đấy nhé?”
“Tất nhiên là hứa rồi…” Thẩm Kính Hồ cố ý làm ra vẻ nghiêm trọng, “Cha đã bao giờ lừa con chưa?”
Nhưng lần này, cha đã lừa nàng thật rồi.
Nàng đã lường trước được việc cha sẽ bị thương, thậm chí là thương nặng, nhưng chưa từng nghĩ lại thê thảm đến mức này. Nỗi đau xót tột cùng khiến nàng không thốt nên lời, chỉ biết nắm chặt cánh tay Thẩm Chiêu, nước mắt lặng lẽ rơi xuống từng giọt.
Nước mắt nóng hổi thấm ướt lớp vải, khiến Thẩm Chiêu đau đớn thấu tận tâm can. Hắn vòng tay ôm lấy nàng, căm hận nghiến răng: “Ban Ban, muội yên tâm! A huynh hứa với muội, nhất định sẽ băm vằm con rùa rụt cổ Tiêu Húc ấy ra!”
Hơi thở Thẩm Diệu Chu run rẩy, khi phẫn uất đến cực điểm thì đầu óc đã trở nên mụ mẫm. Nàng không nhớ rõ mình đã theo Liễu Thất ra ngoài như thế nào, để lại Thẩm Chiêu và đại phu ở trong phòng chữa trị cho cha.
Nàng ngồi ở gian phòng chính một lúc, trông thấy các gia tướng tấp nập ra vào phòng, từng chậu nước nóng được liên tiếp bưng tới, vô cùng bận rộn.
Nàng ép mình phải bình tĩnh lại, có thế thì mới suy xét được xem tiếp theo nên làm gì.
Mặc dù chưa biết tại sao Tiêu Húc lại ra tay tàn độc đến mức mất nhân tính như vậy, nhưng mối thù này, nàng tuyệt đối sẽ không bỏ qua!
Tiêu Húc đã dám làm hại Phò mã đương triều thì hẳn là đã không còn gì để sợ. Thương thế của cha nàng quá nặng, không thể rời Đại Đồng ngay lập tức. Nếu Tiêu Húc hạ lệnh lùng sục khắp thành thì sớm muộn gì căn tiểu viện này cũng bị bại lộ.
Điều quan trọng nhất lúc này là tìm một nơi kín đáo hơn để cha an tâm dưỡng thương.
Nàng chợt nhớ tới một người.
Thẩm Diệu Chu đứng phắt dậy, nhìn Liễu Thất hỏi: “Mấy ngày trước, Nhị công tử nhà Tổng binh Đại Đồng là Triệu Hoài Thanh có đến tìm ngươi không?”
Liễu Thất đáp: “Hắn đến hỏi thăm tung tích của Tần cô nương, thuộc hạ xem thư tay của người nên đã cho người dẫn hắn đi.”
“Vậy ngươi có biết trạch viện của hắn nằm ở đâu không?”
Liễu Thất gật đầu: “Không xa chỗ ta lắm, ngay cuối phố Thái Bình thôi.”
Mắt Thẩm Diệu Chu sáng lên, nàng vội tìm giấy bút viết một phong thư, thổi cho khô lớp mực rồi cẩn thận gấp lại giao cho Liễu Thất: “Ngươi đem lá thư này giao cho Triệu Hoài Thanh, nói là ta có việc gấp cầu cứu, nhất định phải tận tay đưa cho hắn, đừng để người khác chạm vào, nhớ rõ chưa?”
“Vâng, Quận chúa yên tâm!” Liễu Thất nhận lệnh, vội vã rời đi.
Nhà họ Triệu vốn luôn giữ thế trung lập, lại nắm binh quyền Đại Đồng, Tiêu Húc sẽ không dễ dàng đắc tội. Hơn nữa, bề ngoài nàng và Triệu Hoài Thanh không có qua lại, mượn hắn một căn biệt uyển để trú tạm là phương án ổn thỏa nhất.
Đến tận khi trời sắp sáng, đại phu mới xử lý xong hết các vết thương lớn nhỏ trên người Thẩm Kính Hồ. Ông đã mệt đến mức vã mồ hôi hột, lúc bước ra chân tay vẫn còn run rẩy. Thẩm Diệu Chu vội sai gia tướng đưa ông đi nghỉ, còn mình thì bưng bát thuốc vào phòng trong.
Thẩm Chiêu thấy nàng vào liền đứng dậy đỡ lấy bát thuốc: “Ban Ban, muội đi nghỉ một lát đi, quầng mắt thâm đen hết rồi kìa. Nghĩa phụ cứ để ta trông là được.”
Nàng lắc đầu: “A huynh, huynh vất vả cả đêm rồi, đi nghỉ trước đi, để ta túc trực cạnh cha cho.”
Thẩm Chiêu biết nàng muốn ở riêng một mình nên không nói gì thêm, chỉ khẽ đáp một tiếng “được”. Trước khi ra cửa, hắn còn quay lại dặn: “Có việc gì thì gọi ta, ta ở ngay bên ngoài, không đi xa đâu.”
Thẩm Diệu Chu gật đầu, ngồi xuống chiếc ghế nhỏ cạnh giường, thổi cho ấm từng thìa thuốc rồi đút cho Thẩm Kính Hồ. Đút thuốc xong, nàng vẫn túc trực bên giường, thỉnh thoảng lại sờ trán cha, thấy ông không phát sốt mới tạm yên lòng.
Trời dần sáng, ánh bình minh màu xanh nhạt chiếu nghiêng qua song cửa, in một vệt sáng nhỏ lên trên sàn gạch, bốn phía tĩnh lặng như tờ.
Thẩm Kính Hồ vốn có tướng mạo nho nhã tuấn tú, nhưng giờ đây cả người đã gầy rộc đi, hai bên thái dương đã lốm đốm bạc, đuôi mắt cũng hằn sâu những nếp nhăn chi chít.
Thẩm Diệu Chu nhìn khuôn mặt già nua tiều tụy của cha, trong lòng bỗng trào dâng nỗi xót xa khôn tả, không kìm được mà tựa đầu vào cạnh mép giường, nước mắt lặng lẽ chảy dài, thấm vào chăn nệm.
Bên ngoài bỗng vang lên tiếng bước chân, tiếp theo sau đó là giọng nói của Liễu Thất: “Quận chúa, người của Triệu tiểu tướng quân tới rồi.”
“Ta biết rồi, ra ngay đây.” Thẩm Diệu Chu vội lau nước mắt, đứng dậy đón khách.
Người đến là tùy tùng thân cận của Triệu Hoài Thanh. Thấy Thẩm Diệu Chu, người đó cung kính nói: “Quận chúa, công tử nhà ta có một tòa biệt uyển ở Đông thành, rất an toàn. Sáng sớm nay Vệ Sở ngoài thành có quân tình khẩn cấp, ngài ấy phải rời thành nên không thể trực tiếp tới, đặc biệt sai ta đến đưa mọi người qua đó.”
Thẩm Diệu Chu cảm kích gật đầu: “Vất vả cho ngươi rồi, nhớ thay ta cảm tạ công tử nhà ngươi.”
Mọi thứ đã được thu dọn xong xuôi, nàng gọi gia tướng cùng đưa Thẩm Kính Hồ đến biệt uyển nhà họ Triệu an toàn.
Đến nơi, Thẩm Diệu Chu vẫn túc trực bên giường. Mãi đến chiều, Thẩm Kính Hồ mới tỉnh lại.
Phát hiện người trên giường đã khẽ cử động, nàng giật mình ngẩng đầu lên thì thấy ông đang nhìn mình, trong mắt là vui mừng xen lẫn lo lắng: “Ban Ban…”
Giọng ông khàn đặc, nói năng rất khó khăn.
“Cha!” Mũi Thẩm Diệu Chu cay xè, nức nở gọi một tiếng, nước mắt tuôn rơi.
“… Ừ.” Thẩm Kính Hồ run giọng đáp lại, hơi cử động cánh tay, giống như muốn đưa tay lên nhéo mũi nàng như mọi khi, nhưng vừa giơ tay lên thì đã hẫng đi một nhịp.
Động tác của ông khựng lại.
Trong khoảnh khắc đó, Thẩm Diệu Chu cảm thấy tim mình như bị một lưỡi dao cùn cứa mạnh, cả lục phủ ngũ tạng cũng đau đến quặn thắt. Nàng nhích lại gần, cẩn thận ôm lấy cổ cha, khẽ dụi đầu vào vai ông, nước mắt càng rơi dữ dội.
Thẩm Kính Hồ xót xa dỗ dành: “Ban Ban đừng khóc, không sao đâu.”
Mãi đến khi cảm xúc dần lắng lại, Thẩm Diệu Chu mới ngồi thẳng dậy, mạnh bạo lau nước mắt trên má, hằn học hỏi: “Cha, sao tên chó chết Tiêu Húc đó lại đối xử với người như vậy? Sao y dám chứ!?”
Thẩm Kính Hồ im lặng một lát, ôn tồn nói: “Gọi A Chiêu vào đây, cha có chuyện muốn nói với các con.”
Thẩm Diệu Chu gật đầu, gọi vọng ra ngoài: “A huynh.”
Thẩm Chiêu nhanh chóng vén rèm bước vào, thấy ông đã tỉnh thì trên mặt hiện lên nụ cười nhẹ nhõm: “Nghĩa phụ! Người tỉnh rồi?”
“A Chiêu, lại đây.” Thẩm Kính Hồ mỉm cười gật đầu, lấy hơi rồi chậm rãi mở lời: “Nguyên do Tiêu Húc dùng hình với ta, là để tra hỏi về một đạo di chiếu mà Tiên đế để lại.”
Thẩm Diệu Chu và Thẩm Chiêu đều sững sờ.
“Chuyện này nói ra thì dài lắm…”
Ngày đó, đúng là Thẩm Kính Hồ đã nhận được mật thư của Ngô Trung Nhân. Trong thư nói gần đây ông ấy phát hiện ở Đại Đồng có người cấu kết với Ngõa Lạt buôn lậu hỏa khí, trong lúc âm thầm truy đuổi đã bắt được vài tên dị quốc, trong đó có hai người Hán là binh sĩ còn sống sót sau trận chiến mười năm trước. Họ từng là Hiệu úy dưới trướng Vệ Thanh Quân, sau khi bại trận thì bị bắt làm nô lệ.
Hai người này khẳng định rằng mình biết rõ nội tình trận chiến năm xưa, thế là Ngô Trung Nhân cứu họ, giấu vào chùa Nghiêm Hoa rồi gửi thư về kinh mời Thẩm Kính Hồ tới gấp.
Trong trận chiến ở cửa Hổ Lược năm đó, toàn bộ Vệ gia quân đều đã tử trận, Thẩm Kính Hồ vốn tưởng không còn nhân chứng, không ngờ vẫn còn người sống sót nên lập tức lên đường.
“Ngay đêm thứ hai sau khi ta tới, trong phủ nha có thích khách đột nhập, ý đồ hành thích Tử Thứ. Thích khách đông đảo, võ nghệ lại cao cường…”
Tử Thứ là tên tự của Ngô Trung Nhân.
Ngô Trung Nhân không biết võ, võ công của Thẩm Kính Hồ cũng chỉ đủ tự vệ. Hộ vệ không địch nổi, hai người bị thương, vội vàng chạy đến chùa Nghiêm Hoa. Nhưng không hiểu sao hành tung bị bại lộ, ngay ngày hôm sau đã có tư binh đến lục soát chùa. Thẩm Kính Hồ vì muốn bảo vệ Ngô Trung Nhân và các nhân chứng nên đã mạo hiểm ra ngoài dụ địch, bị ép phải nhảy xuống vách núi.
Ông vật lộn trong núi nhiều ngày, may mắn được một thợ săn cứu mạng. Vết thương vừa đỡ đau hơn được một chút, Thẩm Kính Hồ đã vội vàng quay lại chùa, định đưa nhân chứng đến đất phong của Kỳ Vương, nhưng hành tung lại lần nữa bị bại lộ, sau đó bị Tiêu Húc bắt giữ, giam cầm.
“Lúc đó ta mới nhận ra tất cả đều là bẫy. Hai tên nhân chứng đó thực chất là người của Tiêu Húc. Y buôn hỏa khí bị Tử Thứ theo dõi nên đã tương kế tựu kế, mượn tay Tử Thứ để dẫn ta sập bẫy, sau đó cử thích khách đến, một là để diệt khẩu, hai là để bắt ta…”
Nói đến đây, thể lực Thẩm Kính Hồ cạn kiệt, sắc mặt càng thêm khó coi, mồ hôi lạnh rịn ra đầy trán. Thẩm Diệu Chu vội giúp cha lau mồ hôi, dìu ông uống nửa chén trà rồi nghiến răng nói: “Cha, cha nghỉ ngơi trước đã, giờ không vội nói chuyện này. Đợi sau khi cha dưỡng thương xong, chúng ta sẽ tìm Tiêu Húc tính sổ!”
Thẩm Kính Hồ chậm rãi lắc đầu: “Chuyện này hết sức nguy hiểm, trước kia ta chỉ sợ các con bị kéo vào, nhưng giờ đây… cần phải cho các con biết càng sớm càng tốt…”
Mười năm trước, sau khi tin tức bại trận truyền về, Tiên đế đã trúng phong nôn ra máu ngay tại chỗ, nằm bệnh suốt nhiều tháng. Đợi đến khi Thẩm Kính Hồ tìm thấy Kỳ Vương đang trọng thương, ông mới biết đã có kẻ thông đồng với quân Ngõa Lạt tiết lộ bản đồ hành quân. Tuy nhiên, thế cục triều chính lúc đó đã rơi vào tay Thôi Hoán Chi và Đại hoàng tử Tiêu Mân, bọn chúng liền đổ hết tội lỗi lên đầu Vệ gia rồi vội vàng kết án.
Ông từng âm thầm điều tra những người từng ra vào phủ Công chúa, bởi vì bọn họ đều có khả năng đã nhìn thấy tấm bản đồ. Trong đó có Tiêu Húc là đáng nghi nhất, nhưng khi đó y vẫn còn nhỏ, chỉ nói là đến thăm cô mẫu, Thẩm Kính Hồ cũng không có bằng chứng xác thực.
“… Ta cải trang thành nội thị lẻn vào cung báo tin cho Tiên đế. Nhưng lúc đó Tiên đế đã như đèn cạn dầu, toàn bộ cung cấm đều nằm trong tay Tiêu Mân. Ngài bất đắc dĩ bí mật để lại hai đạo di chiếu, một đạo truyền ngôi cho Kỳ Vương, đạo kia hạ lệnh nếu tìm được chứng cứ, ngay lập tức phế truất toàn bộ tông tộc của Tiêu Mân làm thứ dân, sau đó g**t ch*t Tiêu Húc.”
Nhưng khi đó Kỳ Vương bị thương nặng khó sống, phần lớn triều đình đã ủng hộ đương kim thánh thượng lên ngôi, Thẩm Kính Hồ có di chiếu cũng vô dụng. Đợi hơn nửa năm sau, Kỳ Vương mới may mắn giữ được mạng sống, nhưng Tiêu Mân cũng đã ngồi vững trên ngai vàng.
Bao nhiêu năm qua, ông vẫn luôn âm thầm tìm kiếm chứng cứ cũ, cùng Kỳ Vương chiêu mộ lực lượng, chờ đợi cơ hội trả thù cho thê tử, sửa lại những sai lầm năm xưa.
“… Không biết Tiêu Húc đã nghe ngóng được chuyện di chiếu thế nào, liền thiết kế ra cái bẫy đó để ép ta nói ra nơi giấu di chiếu…”
Cuối cùng Thẩm Kính Hồ cũng kể xong đầu đuôi câu chuyện.
Ban đầu Thẩm Diệu Chu còn chưa kịp hoàn hồn, nhưng khi nghe xong tất cả, sự phẫn nộ đã lấp đầy lồng ngực, chỉ còn lại nỗi căm hận Tiêu Húc đến tận xương tủy.
Hóa ra, y không chỉ hành hạ cha nàng dã man như thế, mà ngay cả cha con y cũng chính là kẻ đã hại chết mẹ của nàng!
Còn có ngoại tổ phụ của nàng, một người cứng cỏi như vậy, mà lại phải ôm hận qua đời…
Cha, mẹ, ngoại tổ phụ, đều là những người nàng thương yêu nhất, bảo nàng làm sao không hận, làm sao không đau lòng cho được!
Nàng nghiến răng, giọng nói lạc cả đi: “Cha, mẹ của con đã bị cha con bọn chúng hại chết đúng không? Chúng hại chết mẹ con, giờ lại còn hại đến cha, vậy mà bao nhiêu năm nay con vẫn gọi chúng là cữu cữu, là biểu huynh! Tiêu Húc… con nhất định phải giết y!”
Thẩm Chiêu nghe mà đỏ bừng con mắt, rút trường kiếm ra, phẫn uất nói: “Ta phải đi băm vằm tên chó chết đó thành mười mấy đoạn mới được!”
Nói xong, hắn định lao ngay ra ngoài.
“A Chiêu!” Thẩm Kính Hồ vội gọi lại, “Chuyện này phải tính kế lâu dài…”
Trong cơn phẫn uất tột độ, Thẩm Diệu Chu lại bình tĩnh một cách kỳ lạ. Nàng định thần lại, gật đầu: “Đúng vậy, a huynh, chúng ta đợi vết thương của cha ổn định hơn rồi tính kế cũng chưa muộn.”
Thẩm Chiêu định đáp lời thì đã thấy Thẩm Kính Hồ lắc đầu, mệt mỏi nói: “Muốn báo thù thì không thể vội vàng được… Lúc này Tiêu Húc vẫn chưa bẩm báo chuyện di chiếu, có lẽ vì y tham công, muốn lấy được di chiếu để nịnh bợ Tiêu Mân, hoặc có lẽ sợ bị Cảnh Vương phát hiện. Tóm lại là nhân lúc Tiêu Mân chưa hay biết, các con hãy lập tức lên đường đến Khánh Dương, những nơi khác đều không an toàn…”
Khánh Dương là đất phong của Kỳ Vương.
Thẩm Diệu Chu linh cảm có điều không lành, lo lắng hỏi: “Cha, cha bị thương nặng thế này, không thể đi lại vất vả đâu.”
Thẩm Kính Hồ mỉm cười, ánh mắt nhìn nàng đong đầy hiền từ, không nỡ, xen lẫn cả một chút hối lỗi sâu sắc. Nàng bị ông nhìn đến phát hoảng, trực giác thấy có chuyện gì đó tồi tệ hơn mình nghĩ rất nhiều: “Cha…”
Thẩm Kính Hồ sầu não thở dài một tiếng, chậm rãi nói: “Tiêu Húc thấy ta nhất quyết không chịu khai ra nơi cất giấu di chiếu nên đã nảy sinh ý định diệt khẩu. Y ép ta uống một loại kỳ độc, thậm chí còn lừa gạt rằng nếu ta chịu cung khai, y sẽ đưa thuốc giải cho ta.”
Nói đoạn, ông gượng gạo cười khổ, lại tiếp tục: “Nhưng dù sao ta cũng đã làm nghề y hai mươi năm, lẽ nào lại không biết Thất Phẩm Hồng là vật gì? Loại độc này vô phương cứu chữa, người uống vào không thể sống quá bảy ngày. Tính ra… đến nay đã là ngày thứ năm rồi.”
Đầu óc Thẩm Diệu Chu bỗng ngưng trệ.
Nàng sững sờ đứng chôn chân tại chỗ, máu trong người như đông cứng lại, đôi chân rã rời chẳng khác nào đang đứng trên bông, không cách nào đứng vững.
Tại sao… tại sao lại như vậy? Khó khăn lắm nàng mới gặp lại được cha, vì sao kết quả lại thành ra như thế này?
Nàng đã mất mẹ rồi, không thể lại mất luôn cha được!
Còn chưa kịp cất lời, nước mắt đã tuôn rơi lã chã.
Thẩm Diệu Chu lao thẳng đến trước mặt ông, khóc đến mức run rẩy cả người: “Cha… con không cho phép cha có chuyện gì, con không cho phép, không cho phép đâu!”
Hốc mắt Thẩm Kính Hồ đỏ hoe, nghẹn ngào an ủi nàng: “Ngoan, đừng khóc. Cha còn có thể nhìn thấy con một lần cuối, cũng đã là mãn nguyện lắm rồi.”
Thẩm Chiêu hơi ngẩng đầu, cố ép nước mắt chảy ngược vào trong. Hồi lâu sau, hắn mới khàn giọng lên tiếng: “Nghĩa phụ, loại độc này chưa chắc đã không có thuốc giải. Di chiếu còn chưa tới tay, làm sao tên Tiêu Húc kia có thể nhẫn tâm hại chết người ngay được? Theo con thấy thì chắc chắn trong tay y có thuốc giải!”
Thẩm Diệu Chu nghe thấy hắn nói thế, liền nghiến chặt răng, ép bản thân phải bình tĩnh lại.
A huynh nói đúng, ngộ nhỡ… ngộ nhỡ vì cha bị thương quá nặng, thần trí không tỉnh táo nên nhận nhầm độc dược thì sao?
Nghĩ đến đây, trong lòng nàng dần nhen nhóm lên tia hy vọng.
Bất kể thế nào, cứ bắt Tiêu Húc tới là được!
Nàng âm thầm hạ quyết tâm, chậm rãi ngồi thẳng dậy, dùng sức lau sạch nước mắt hai bên má, nhìn về phía Thẩm Chiêu nói: “A huynh, chúng ta đi tìm Tiêu Húc đòi thuốc giải thôi.”
…
