Sự bướng bỉnh của Việt phu nhân, thực ra cũng nhờ vào cả đời bà có vận số may mắn.
Khi còn trẻ, Việt lão thái gia chỉ là một người buôn bán hàng rong ở một thành nhỏ nơi Tây Bắc. Sau khi lập gia đình, sinh con đẻ cái, ông lại tình cờ gặp vận may dần trở thành một thương nhân giàu có có tiếng ở kinh thành.
Việt phu nhân chính là ái nữ của ông.
Từ nhỏ bà lớn lên trong nhung lụa, vui vẻ vô lo cho đến năm mười sáu tuổi liền phải lòng ngay vị công tử cả của Kỳ gia đến thăm, một lòng muốn gả cho ông.
Việt lão thái gia cũng vừa ý chàng thiếu niên khôi ngô ấy, chỉ ngại Kỳ gia ở tận Quảng Lăng, cách kinh thành xa xôi, sản nghiệp lại không thể sánh bằng nhà mình. Thế nhưng không cư-ỡng lại được ngàn vạn lần ái nữ nài nỉ, cuối cùng vẫn sắm đủ của hồi môn xa hoa mười dặm, gả nữ nhi về Quảng Lăng.
Kỳ gia vốn dĩ đời đời làm ăn buôn bán, song họ đông chi nhiều nhánh, chỉ có chi trưởng mới thực sự giàu sang, còn các nhánh bên chỉ đủ cơm ăn áo mặc.
Kỳ đại công tử là con trưởng dòng chính, dưới còn có hai người đệ đệ và một muội muội, đều là con thứ lại chẳng đứa nào thông minh tháo vát bằng ông.
Nhờ vậy, Việt phu nhân vừa bước chân qua cửa đã là đích trưởng tẩu, muốn phú quý có phú quý, muốn thể diện có thể diện cả nhà trên dưới đều phải nể nang vài phần.
Huống chi bà còn là thiên kim tiểu thư từ kinh thành hạ giá về!
Từ cha mẹ chồng, trục lí (chị em dâu) đến tiểu cô, không ai dám đụng chạm bà nửa lời; ngay cả tướng công của bà cũng luôn nhường nhịn, không dám sơ suất.
Cuộc sống ấy, thật sự sung sướng biết bao!
Cho đến khi đứa con đầu lòng của bà mất yểu.
Đứa trẻ sinh ra vốn đã yếu ớt, từ lúc đầy tháng phải ngày ngày mời đại phu, sắc thuốc, số bạc đổ ra nhiều đến nỗi đủ để đúc thành một đứa trẻ bằng bạc còn to hơn nó.
Thế mà vẫn không qua được một tuổi, đã lìa đời.
Đây là lần đầu tiên trong đời Việt phu nhân gặp sóng gió, lại là một đòn đau chí mạng.
Bà ôm xá-c con khóc cạn nước mắt, nhưng có khóc cũng chẳng thể gọi con trở về.
Kỳ lão gia cũng đau buồn suốt một thời gian, mãi đến khi tiểu thiếp mà phu nhân thưởng cho ông sinh ra đứa con thứ hai là Kỳ Thừa Châu, ông mới dần nguôi ngoai.
Nhưng Việt phu nhân thì tuyệt nhiên không thể nguôi ngoai!
Hai phu thê nhìn nhau chỉ thêm chán ghét, suốt ngày đập bát ném chén, cãi vã ầm ĩ một thời gian dài. Mãi đến mấy năm sau, bà sinh ra Kỳ Hoài Cảnh, cuộc sống của bà mới dần có chút an ủi, tìm lại được niềm vui.
Người ta vẫn nói, nhím càng nhìn con càng thấy đáng yêu, chồn càng nhìn con càng thấy thơm.
Kỳ Hoài Cảnh không chỉ là nhi tử ruột của Việt phu nhân, mà còn là đứa con quý giá mà bà có lại được sau khi mất đứa con trưởng.
Trong mắt Việt phu nhân, người nhi tử này quả thật là bảo bối ngọc ngà.
Từ lúc Hoài Cảnh chào đời, bà đã coi như phượng hoàng sống rơi xuống từ trời, ngậm trong miệng thì sợ tan, nâng trên tay thì sợ rơi, trăm chiều nghìn mến, hết mực cưng chiều.
Kỳ lão gia thấy bà nuông chiều con đến vô độ, cũng có phần trách móc, nói rằng nhi tử mà dạy hư thì sau này khó thành người.
Nhưng Việt phu nhân chỉ mong con bình an khôn lớn, còn thành tài hay không chẳng quan trọng.
Vì chuyện này, phu nhân và lão gia cãi nhau một trận dữ dội. Trong cơn giận, bà dắt theo Kỳ Hoài Cảnh chưa đầy hai tuổi lên đường bắc tiến về kinh thành trở về nhà mẹ đẻ, ở lại đó suốt mấy năm.
Sau này, Quảng Lăng thành bùng phát dịch bệnh, Kỳ lão gia và Chu di nương – người đã sinh cho ông một đứa con thứ, lần lượt bệnh nặng qua đời chỉ còn lại thứ tử Kỳ Thừa Châu mới trưởng thành gắng gượng lo liệu sản nghiệp.
Phía hậu viện Kỳ gia lúc ấy chỉ còn lại một tiểu thiếp họ La, bế theo tiểu nữ nhi Kỳ Ấu Lan vừa mới chập chững biết đi, gắng gượng quán xuyến việc nhà.
Kỳ Thừa Châu lúc đó chỉ mười sáu mười bảy tuổi, hai người thúc thúc ruột thấy hắn còn nhỏ tuổi, lại là con thứ, sản nghiệp thì lớn bèn sinh lòng tham đen tối, xúi giục người trong tộc, đòi chia lại gia sản.
Vừa mới chịu tang song thân nhưng Thừa Châu vẫn có khí khái của thiếu niên. Thấy hai thúc thúc hùng hổ muốn nuốt trọn cơ nghiệp mà phụ thân hắn vất vả gây dựng, làm sao hắn chịu khuất phục?
Hắn bày kế tránh tầm mắt tộc nhân, nửa đêm lặng lẽ lên đường về kinh thành, quỳ ngay trước cổng lớn Việt gia, thân mặc đại tang, ôm linh vị phụ thân, òa khóc thảm thiết khẩn cầu đích mẫu và đệ đệ ruột về lại nhà, giúp quản lý sản nghiệp Kỳ gia.
Việt lão thái gia vốn hiểu chuyện, nghĩ hiền tế và nữ nhi tuy giận nhau nhưng chưa hòa ly, Kỳ Hoài Cảnh dù gì vẫn là con Kỳ gia, nay hiền tế đoản mệnh, tình lý đều nên để mẫu tử bà trở về.
Thế là Việt phu nhân đưa Kỳ Hoài Cảnh trở lại Quảng Lăng thành.
Hôm ấy, Kỳ Thừa Châu nghênh đón đích mẫu và đệ đệ vào linh đường, trước mặt toàn thể tộc nhân, quỳ trước linh vị phụ thân, ngửa mặt thề rằng: ‘Khi còn đích mẫu, đệ đệ là tôn quý nhất, tuyệt đối không tranh giành; nếu vi phạm lời thề này, đời này kiếp này không được ch-ết yên ổn.’
Hắn là con thứ, hai người thúc thúc kia cũng là con thứ. Thấy Kỳ Thừa Châu phát độc thề trước linh đường, sau lưng lại có Việt gia giàu có và quyền thế ở kinh thành chống lưng, họ cũng không còn mở miệng đòi chia gia sản được nữa.
Vì vậy, Việt phu nhân lại một lần nữa làm chủ Kỳ gia.
Bà trên không còn cha mẹ chồng, dưới có nhi tử đích tôn, lại chẳng còn người phu quân mà sớm đã chán ghét lẫn nhau; mấy người trục lí thì đã phân ra ở riêng, tiểu cô cũng đã gả sang Thẩm gia.
Nhờ có sự giúp đỡ từ nhà mẹ đẻ của đích mẫu, Kỳ Thừa Châu mới thuận lợi tiếp quản sản nghiệp Kỳ gia, cưới vợ sinh con, đối với bà càng thêm cung kính, kính trọng.
Cuộc sống của Việt phu nhân, lại một lần nữa trở nên vui vẻ, dễ chịu.
Nhưng không ngờ, bà nhanh chóng gặp phải biến cố thứ hai trong cuộc đời.
Kỳ Hoài Cảnh, người nhi tử này, càng lớn càng ngỗ ngược.
Việt phu nhân dốc hết tình thương của người mẹ, yêu thương hắn hết mực, thành ra cũng hay cằn nhằn, lo lắng từng li từng tí, nhắc đi nhắc lại chỉ mong sắp xếp cho con tất cả mọi thứ thật tốt.
“Con ngoan, chuyện này cứ nghe lời mẫu thân nhé!”
“Con ngoan của ta, mẫu thân làm vậy đều vì muốn tốt cho con thôi mà!”
“Cảnh Nhi à, cả đời này mẫu thân chỉ trông cậy vào một mình con đấy!”
Và chàng thiếu niên Kỳ Hoài Cảnh, càng lớn càng ngỗ nghịch, chỉ đáp lại bằng mấy câu.
“Mẫu thân bớt quản đi!”
“Thôi đủ rồi!”
“Mẫu thân phiền quá đi mất!”
Việt phu nhân tức đến đau gan, nhưng tức xong rồi vẫn cứ chạy đến bên con, tiếp tục dặn dò.
Còn Kỳ Hoài Cảnh thì thật sự phát chán.
Càng thấy bà muốn kiểm soát mọi thứ, hắn càng cố tình làm ngược lại.
Ví như, ở bên ngoài thì hòa nhã, khéo ăn nói nhưng cứ về đến nhà thì uể oải chẳng buồn hé miệng, mười ngày nửa tháng cũng không thèm lộ mặt trước bà.
Lại như, mới về Kỳ gia, hắn liền chuyển vào sống ở Ngô Đồng Uyển, nơi xa sảnh Úc Kim Đường nhất rồi nghiêm cấm phu nhân bước chân vào nửa bước.
Hoặc như, phu nhân từ lâu muốn hắn cưới nữ nhi Việt gia, dằn vặt khuyên nhủ bao năm vẫn không lay chuyển được thì hắn liền quay sang sang Thẩm gia cầu thân.
Đây là chuyện cả đời đấy!!
Đừng nói Việt phu nhân tức đến phải nằm liệt giường, ngay cả ngoại tổ phụ –Việt lão thái gia, người đã tự tay nuôi dưỡng hắn cũng tức giận đến mức không tham dự hôn lễ của cháu.
Cho đến tận bây giờ, Việt phu nhân vẫn ngờ rằng, việc hắn nhất quyết cưới Thẩm Đường là để chống đối lại mình.
Nhưng bà chẳng làm gì được con.
Ngay cả khi sắp đến giờ tân nương tới dâng trà, phu nhân vẫn còn giận dữ, lẩm bẩm: “Tên nghiệt chủng này đúng là đến để đòi nợ ta mà! Nữ nhi Thẩm gia là biểu muội, nữ nhi Việt gia cũng là biểu muội, đều xinh đẹp như hoa cả, cưới ai mà chẳng được! Thế mà cứ phải chống lại ta! Tính nết này, chẳng biết giống ai nữa...”
Tôn ma ma, nhũ mẫu theo hầu từ hồi phu nhân còn là tiểu thư xuất giá vẫn nhớ rõ cái ngày năm xưa, khi tiểu thư sụt sùi khóc lóc đòi gả cho Kỳ đại gia trước mặt lão gia suýt nữa thì không nhịn được cười.
Để mở chặn quảng cáo vui lòng
Thông tin cá nhân
Truyện đang đọc
Chưa có truyện đọc
Đơn hàng của bạn
Chưa có đơn hàng nào
Lịch sử mua gói
Chưa có lịch sử mua gói
